Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 435/2024/DS-PT

Ngày: 16-5-2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Uông Văn Tuấn

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thủy

Bà Phạm Thị Kim

Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Huyền Trang – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Nguyễn Thị Mai Hương – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong các ngày 19 tháng 3 và ngày 16 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 655/DS-PT ngày 05 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 371/2023/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 10 bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5912/2023/QĐ-PT ngày 21 tháng 12 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 567/2024/QĐ-HPT ngày 12 tháng 01 năm 2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa dân sự phúc thẩm số 1457/2024/QĐPT-DS ngày 31 tháng 01 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 994/2024/QĐ-PT ngày 28 tháng 02 năm 2024 và Thông báo về thời gian xét xử vụ án dân sự phúc thẩm số 5397/TB-TA ngày 19 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ.

Địa chỉ trụ sở chính: 130 đường P, Phường C, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Trung P, sinh năm 1967 – Giám đốc Chi nhánh Q – Ngân hàng TMCP Đ (có mặt).

Địa chỉ thường trú: 30 đường C, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ liên lạc: 56-58 đường N, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Là người đại diện theo ủy quyền, Quyết định ủy quyền số: 163/2023/QĐ-DAB-HĐQT-PC ngày 08/8/2022).

Bị đơn: Ông Võ Quốc M, sinh năm 1986 (có mặt).

Địa chỉ: G đường T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty cổ phần S;

Địa chỉ trụ sở: số D đường H, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Ngọc L và ông Võ Hoàng P1 (có mặt).

Người bảo vệ quyền lợi hợp pháp: Luật sư Lê Thị H thuộc Công ty L1 – Đoàn luật sư Thành phố H.

Địa chỉ: số D đường H, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các bản khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa đại diện của nguyên đơn trình bày:

Ngày 25/6/2011, Ngân hàng thương mại cổ phần Đ – Chi nhánh Q (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) có ký kết với ông Võ Quốc M hợp đồng dịch vụ thấu chi tài khoản thẻ số: 126/TC-01/2011. Theo hợp đồng, Ngân hàng đồng ý cấp hạn mức thấu chi (hạn mức vay) cho ông Võ Quốc M là 1.000.000.000 đồng với lãi suất trong hạn là 1,95%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 1,5 lần lãi suất trong hạn; thời hạn thấu chi (thời hạn vay) là 12 tháng kể từ ngày Ngân hàng cấp hạn mức thấu chi cho ông Võ Quốc M; hình thức bảo đảm thấu chi là tín chấp.

Ngay sau khi ký kết hợp đồng, Ngân hàng đã cấp hạn mức thấu chi 1.000.000.000 đồng cho ông M theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng. Ngày 25/6/2011, ông Võ Quốc M đã rút tiền mặt từ tài khoản thẻ thấu chi (do Ngân hàng cấp cho ông M) với số tiền là 1.000.000.000 đồng. Tuy nhiên, ngày 25/6/2012 là ngày hết hạn hợp đồng vay nhưng ông M vẫn không trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng.

Do đó Ngân hàng yêu cầu ông Võ Quốc M phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 5.234.425.000 đồng gồm: Nợ gốc 1.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 237.900.000 đồng, nợ lãi quá hạn là 3.996.525.000 đồng. Ngoài ra, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Võ Quốc M còn phải tiếp tục trả tiền lãi trên nợ gốc còn lại cho đến khi trả hết trợ gốc theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng dịch vụ thấu chi tài khoản thẻ số: 126/TC-01/2011 ngày 25/6/2011.

Về yêu cầu độc lập của bị đơn với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Ngân hàng không có ý kiến gì. Ngân hàng xác định khoản vay trên là của cá nhân ông Võ Quốc M với Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng chỉ yêu cầu cá nhân ông Võ Quốc M trả nợ cho Ngân hàng.

Tại các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị đơn ông Võ Quốc M trình bày:

Ông là nhân viên của Công ty cổ phần S (sau đây gọi tắt là Công ty U1).

Vào tháng 6/2010 ông và một số nhân viên khác của Công ty U1 được ông Trương V (khi đó là Tổng giám đốc và là người đại diện theo pháp luật của Công ty U1) thông báo tình hình tài chính của Công ty đang gặp khó khăn. Do Công ty U1 đã có khoản nợ quá hạn tại Ngân hàng nên không thể trực tiếp đứng ra vay tiền của Ngân hàng. Trong thời gian đó, Ngân hàng đang có chính sách cho vay thấu chi. Do đó, Công ty U1 đã nhờ ông và một số nhân viên trong Công ty U1 đứng tên trên hợp đồng vay thấu chi để Công ty U1 có tiền trả nợ quá hạn cho Ngân hàng. Do ông đã làm việc và gắn bó với U nhiều năm và bản thân ông cũng mong muốn Công ty U1 vượt qua khó khăn về tài chính. Do đó, ông đã chấp nhận đề nghị của Công ty U1 và đứng ra vay tiền của Ngân hàng giùm cho Công ty U1. Khoảng tháng 6/2010 sau khi hoàn tất các thủ tục vay, ông đã được Ngân hàng giải ngân. Tuy nhiên, ông chỉ đứng ra ký kết và làm các thủ tục theo yêu cầu của Ngân hàng mà không trực tiếp nhận tiền của Ngân hàng. Tiền được Công ty U1 nhận và lại làm thủ tục trả nợ cho Ngân hàng.

Đến tháng 6/2011 khi đến hạn trả nợ gốc và lãi thì Công ty U1 đã đưa tiền cho ông để nộp tiền trả nợ cho Ngân hàng. Sau đó, ngày 25/6/2011, Công ty U1 lại nhờ ông đứng ra ký kết với Ngân hàng, Hợp đồng dịch vụ thấu chi tài khoản thẻ số: 126/TC-01/2011. Theo hợp đồng, Ngân hàng đồng ý cấp hạn mức vay thấu chi cho ông là 1.000.000.000 đồng với lãi suất trong hạn là 1,95%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 1,5 lần lãi suất trong hạn; thời hạn vay là 12 tháng kể từ ngày 25/6/2011; hình thức bảo đảm thấu chi là tín chấp. Tuy nhiên, cũng như lần trước, ông chỉ đứng ra làm thủ tục vay giùm cho Công ty U1 mà không được nhận tiền từ Ngân hàng. Sau đó, Ngân hàng không hề liên hệ với ông để đòi nợ vay. Tuy nhiên, đến năm 2013, ông Trương V là người đại diện theo pháp luật của Công ty U1 bị cơ quan Công an bắt để điều tra về một số sai phạm trong quản lý điều hành Công ty U1. Khi đó, Công ty U1 không chịu thanh toán tiền vay cho Ngân hàng nên Ngân hàng đã yêu cầu ông phải đứng ra trả khoản tiền vay theo hợp đồng nói trên. Do ông không đồng ý trả nợ nên Ngân hàng đã khởi kiện ông.

Do đó, ông M không đồng ý trả nợ cho Ngân hàng vì ông chỉ là người đứng ra vay tiền giùm Công ty U1. Trong trường hợp Tòa án buộc ông phải trả nợ cho Ngân hàng thì ông yêu cầu Công ty U1 phải hoàn trả lại cho ông toàn bộ số tiền gốc và lãi mà ông phải trả cho Ngân hàng.

Tại bản tự khai ngày 16/11/2017, và tại bản trình bày ý kiến ngày 14/9/2023, bà Nguyễn Thị Ngọc T là người đại diện theo ủy quyền của Công ty U1 trình bày:

Về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ – Chi nhánh Q khởi kiện ông Võ Quốc M để đòi nợ vay trong Hợp đồng dịch vụ thấu chi tài khoản thẻ số: 126/TC-01/2011 ngày 25/6/2011 thì Công ty U1 không có yêu cầu hay ý kiến gì.

Đối với yêu cầu của ông Võ Quốc M buộc Công ty U1 trả khoản nợ vay theo Hợp đồng dịch vụ thấu chi tài khoản thẻ số 126/TC-01/2011 ngày 25/6/2011 giữa Ngân hàng với ông Võ Quốc M thì Công ty U1 không đồng ý vì

lý do: Ông Võ Quốc M không phải là nhân viên Upexim. Tại Công ty U1, ông M không có hợp đồng lao động và bảng lương chi trả. Ông Trương V xác nhận ông M là nhân viên Công ty U1 là không đúng. Việc vay vốn, cấp hạn mức thẻ thấu chi là quan hệ giữa Ngân hàng và ông M. Công ty U1 không bảo lãnh cho ông M vay tiền Ngân hàng nên Công ty U1 không có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng và Ngân hàng cũng không yêu cầu Công ty U1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Đối với bảng xác nhận nợ của các cá nhân là do ông Trương V lạm dụng chức vụ quyền hạn ở Công ty U1 xác nhận với tư cách cá nhân mà không thông qua Hội đồng quản trị của Công ty U1. Theo điều lệ và quy chế nội bộ của Công ty U1 không có chủ trương đồng ý để cá nhân vay nợ giùm Công ty U1. Việc thỏa thuận giữa ông Trương V, ông Võ Quốc M và Ngân hàng là quan hệ trái quy định của pháp luật. Ông M không phải là nhân viên của Công ty U1, vì vậy các bên không thể lập hồ sơ vay vốn Ngân hàng và xác nhận nợ vay. Công ty U1 cho rằng ông Trương V ký bảng xác nhận mang tính chất cá nhân nên Công ty U1 không chịu trách nhiệm với bảng xác nhận do ông Trương V ký.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 371/2023/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 10, quyết định:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc ông Võ Quốc M có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền 5.234.425.000 đồng, gồm: Nợ gốc là 1.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 237.900.000 đồng, nợ lãi quá hạn là 3.996.525.000 đồng.
  2. Tiền lãi sẽ được tiếp tục tính từ ngày 16/9/2023 trên nợ gốc còn lại cho đến khi trả hết trợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng dịch vụ thấu chi tài khoản thẻ số 126/TC-01/2011 ngày 25/6/2011.

  3. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của bị đơn: Buộc Công ty cổ phần S có nghĩa vụ trả cho ông Võ Quốc M số tiền 5.234.425.000 đồng.
  4. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành chưa thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng bên phải thi hành còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 04/10/2023, Công ty U1 kháng cáo cho rằng Công ty U1 không nhờ ông M vay tiền Ngân hàng, Phiếu thu ngày 25/6/2011 không thể hiện nội dung ông M nộp tiền vay. Việc ông Trương V ký Bảng xác nhận ngày 26/12/2012 không thông qua Hội đồng quản trị là giả tạo. Do đó, Công ty U1 không chịu trách nhiệm đối với Công ty U1 không chịu trách nhiệm với bảng xác nhận do ông Trương V ký. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông M.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Luật sư Lê Thị H và đại diện theo ủy quyền của Công ty U1 trình bày:

Về thời hiệu, Hợp đồng dịch vụ thấu chi tài khoản thẻ số 126/TC-01/2011 ngày 25/6/2011 có thời hạn là 12 tháng, tính từ ngày 25/6/2012 đến ngày Ngân hàng khởi kiện (ngày 25/5/2016) là đã hết thời hiệu khởi kiện theo quy định tại khoản 3 Điều 159 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm e khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đình chỉ giải quyết vụ án.

Về nội dung, Công ty U1 không nhờ ông M vay tiền Ngân hàng, Phiếu thu ngày 25/6/2011 không thể hiện nội dung ông M nộp tiền vay. Việc ông Trương V ký Bảng xác nhận ngày 26/12/2012 không thông qua Hội đồng quản trị là giả tạo. Do đó, Công ty U1 không chịu trách nhiệm với bảng xác nhận do ông Trương V ký. Tòa án cấp sơ thẩm buộc Công ty U1 trả tiền cho ông M là không đúng. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông M.

- Ý kiến của ông Võ Quốc M: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty U1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Ý kiến của ông Lê Trung P là người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty U1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:

Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi xét xử. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng.

Về nội dung: Nội dung Bảng xác nhận ngày 26/12/2012 không phù hợp với sự thật khách quan trong vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm không đưa ông Trương V vào tham gia tố tụng và chưa thu thập sổ sách kế toán của Công ty U1 để làm rõ sự thật là Công ty U1 nhờ ông M vay tiền không và có phải ông M đã nộp tiền vay cho Công ty U1 như nội dung bảng xác nhận hay là cá nhân ông Trương V nhờ ông M vay tiền để sử dụng, là thiết sót, cấp phúc thẩm không thể bổ sung. Đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ về cho Tòa án nhân dân Quận 10 xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về nợ gốc: Căn cứ vào Hợp đồng dịch vụ thấu chi tài khoản thẻ số 126/TC-01/2011 ngày 25/6/2011 và Phiếu chi ngày 25/6/2011 có đủ cơ sở xác định Ngân hàng đã giải ngân cho ông Võ Quốc M vay số tiền là 1.000.000.000 đồng. Do ông Võ Quốc M đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Võ Quốc M trả số tiền 1.000.000.000 đồng nợ gốc là có căn cứ.

[2] Về nợ lãi: Hợp đồng dịch vụ thấu chi tài khoản thẻ số 126/TC-01/2011 ngày 25/6/2011 có thời hạn là 12 tháng, tính từ ngày 25/6/2012 đến ngày Ngân hàng khởi kiện (ngày 25/5/2016) là đã hết thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 159 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004.

Tại Biên bản làm việc ngày 28/11/2015, ông M không thừa nhận nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng. Ngày 18/9/2016, ông M có đơn đề nghị xem xét thời hiệu. Đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện để đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Theo hướng dẫn tại điểm b khoản 3 Điều 23 của Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012, thì Ngân hàng có quyền khởi kiện yêu cầu đòi lại tài sản, yêu cầu ông M trả số tiền gốc, đối với yêu cầu thanh toán tiền lãi thì đã hết thời hiệu khởi kiện. Lẽ ra, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ điểm e khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để đình chỉ đối với yêu cầu trả nợ lãi. Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét thời hiệu khởi kiện, buộc ông M thanh toán tiền nợ lãi là thiếu sót.

[3] Xét yêu cầu của ông M về việc buộc Công ty U1 thanh toán số tiền 1.000.000.000 đồng vay của Ngân hàng, Hội đồng xét xử xét thấy:

Vào tháng 6/2010 ông M ký hợp đồng vay của Ngân hàng số tiền 1.000.000.000 đồng. Đến ngày 24/6/2011 ông Trương V nộp số tiền 1.000.000.000 đồng thanh toán cho Ngân hàng để đáo hạn vay. Sau đó, ông M tiếp tục ký Hợp đồng dịch vụ thấu chi tài khoản thẻ số 126/TC-01/2011 ngày 25/6/2011 vay của Ngân hàng số tiền 1.000.000.000 đồng.

Ngày 26/12/2012 ông Trương V ký bảng xác nhận, có nội dung: Công ty U1 xác nhận có nhờ cán bộ - công nhân viên vay thấu chi giùm Công ty U1 và đã nộp số tiền vay này về Công ty U1. Trong đó, ông Võ Quốc M có vay giùm Công ty U1 theo Hợp đồng dịch vụ thấu chi tài khoản thẻ số 126/TC-01/2011 ngày 25/6/2011 với số tiền là 1.000.000.000 đồng. Công ty U1 cam kết chịu trách nhiệm trả toàn bộ vốn vay và phần lãi phát sinh của các Hợp đồng vay thấu chi trên cho Ngân hàng TMCP Đ – CN Quận 1 thay cho cán bộ - công nhân viên trên. Đồng thời Công ty U1 cam kết hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc nhờ các cán bộ - công nhân viên trên vay giùm.

Công ty U1 cho rằng Công ty U1 không nhờ ông M vay tiền của Ngân hàng, ông M không phải là nhân viên của Công ty U1, Bảng xác nhận ngày 26/12/2012 là do ông Trương V lạm dụng chức vụ quyền hạn ký xác nhận với tư cách cá nhân mà không thông qua Hội đồng quản trị của Công ty U1.

Ngoài bảng xác nhận ngày 26/12/2012, hồ sơ vụ án không có tài liệu chứng minh Công ty U1 nhờ ông M vay tiền Ngân hàng. Phía ông M không xuất trình được Hợp đồng lao động và Bảng lương để chứng minh Công ty U1 trả lương cho ông M.

Theo ông M, việc vay tiền do ông Trương V trực tiếp giao dịch với Ngân hàng, ông M chỉ ký hợp thức hóa giấy tờ để làm thủ tục vay theo yêu cầu của

Ngân hàng, ông M không trực tiếp nhận tiền và cũng không trực tiếp thanh toán tiền cho Ngân hàng. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Lê Trung P là người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng xác nhận ngày 24/6/2011 ông Trương V nộp số tiền 1.000.000.000 đồng thanh toán khoản vay của Hợp đồng năm 2010 (Bảng sao kê ngày 24/6/2011).

Phiếu thu ngày 25/6/2011 (bản phô tô, không có con dấu của Công ty U1), có nội dung: Người nộp tiền là Khách hàng khác và T1 ứng tiền hàng của Quốc M, chưa có cơ sở xác định ông M nộp số tiền 1.000.000.000 đồng mà Công ty U1 nhờ ông M vay của Ngân hàng theo Hợp đồng dịch vụ thấu chi tài khoản thẻ số 126/TC-01/2011 ngày 25/6/2011.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Công ty U1 xuất trình Cuốn sổ do ông Lâm Bá B là Thủ quỹ của Công ty U1 ghi chép các khoản thu, chi thể hiện có nhiều khoản thu, chi có liên quan đến ông M. Tuy nhiên, riêng ngày 25/6/2011 không ghi bất kỳ khoản thu, chi nào. Trong khi đó, Phiếu thu ngày 25/6/2011 do ông M cung cấp chỉ là bản phô tô, không có con dấu của Công ty U1. Cuốn sổ này được ông Minh xác n là chữ viết của ông Lâm Bá B là Thủ quỹ của Công ty U1.

Như vậy, nội dung Bảng xác nhận ngày 26/12/2012 không phù hợp với các tình tiết khách quan trong vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm buộc Công ty U1 trả tiền cho ông M là chưa có đủ cơ sở vững chắc.

Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải đưa ông Trương V vào tham gia tố tụng và thu thập sổ sách kế toán của Công ty U1 để làm rõ thực tế là Công ty U1 nhờ ông M vay tiền và ông M đã nộp số tiền vay cho Công ty U1 như nội dung trong Bảng xác nhận ngày 26/12/2012 hay là cá nhân ông Trương V nhờ ông M vay tiền để ông Trương V sử dụng. Từ đó mới có cơ sở để xem xét nghĩa vụ trả nợ.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ về cho Tòa án nhân dân Quận 10 xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.

[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm sẽ được Tòa án nhân dân Quận 10 xem xét sau khi thụ lý, giải quyết vụ án.

Hoàn trả cho Công ty cổ phần S và Hàng tiểu thủ công nghiệp số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu số AA/2023/0035449 ngày 12/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 371/2023/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 10. Giao hồ sơ vụ án về cho Tòa án nhân dân Quận 10 xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.
  2. Án phí sẽ được Tòa án nhân dân Quận 10 xem xét sau khi thụ lý, giải quyết vụ án. Hoàn trả cho Công ty cổ phần S số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu số AA/2023/0035449 ngày 12/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - TAND Quận 10;
  • - Cục THADS TP.HCM;
  • - Chi cục THADS Quận 10;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Uông Văn Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 435/2024/DS-PT ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 435/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger