TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 434/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30/09/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA-TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Thiều Thị Phi Loan
Ông Trần Văn Chánh
- Thư ký phiên tòa: Bà La Nguyễn Minh Thi – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa - tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1745/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 322/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 433/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09/9/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Phú Minh N, sinh năm 1991
Địa chỉ thường trú: Số F, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Đỗ Văn H, sinh năm 1988
Địa chỉ thường trú: Tổ A, phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
Địa chỉ tạm trú: Số F, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Bà N có đơn xin xét xử vắng mặt; ông H vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn bà Trần Phú Minh N trình bày:
Bà và ông Đỗ Văn H tự nguyện tìm hiểu, chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 66 ngày 18/6/2020.
Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc, đôi lúc có sự bất hòa nhưng hai vợ chồng vẫn cố gắng dung hòa với nhau để chung sống. Tuy nhiên, sau đó cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn về mặt tình cảm, nguyên nhân là do vợ chồng không hiểu nhau, bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra xung đột và không còn tình cảm nữa. Bà và ông H cũng đã nhiều lần nói chuyện để hàn gắn tình cảm nhưng không đạt kết quả. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Đỗ Văn H.
Về con chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án được thực hiện đúng quy định. Trong vụ án này, các đương sự được xác định đúng tư cách pháp lý của đương sự, đảm bảo việc thu thập chứng cứ, việc cấp tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ cho đương sự và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp nghiên cứu đúng thời gian quy định.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Phú Minh N.
Về con chung: Theo bà N trình bày không có nên không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Theo bà N trình bày tài sản chung không có, nợ chung không có. Do ông H không có lời khai nên đề nghị tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho các đương sự, nhưng nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông H, bà N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn, nên được xác định là hôn nhân hợp pháp.
- Ông H, bà N sau khi kết hôn chung sống với nhau hạnh phúc một thời gian, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo bà N trình bày do vợ chồng không hiểu nhau, bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra xung đột và không còn tình cảm nữa và không thể hàn gắn được. Nay bà N xác định không còn tình cảm với ông H, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin được ly hôn. Tòa án đã thông báo về phiên hòa giải để tạo điều kiện hòa giải cho ông H, bà N hàn gắn đoàn tụ, nhưng ông H vắng mặt không có lý do. Kết quả xác minh tại địa phương thể hiện: Bà Trần Phú Minh N, ông Đỗ Văn H trong quá trình chung sống tại địa phương có xảy ra mâu thuẫn hay không thì địa phương không nắm rõ do địa phương không nhận được trình báo.
Tại biên Phiếu xác minh ngày 02/8/2024 Công an phường T cung cấp: “Ông Đỗ Văn H, sinh năm 1988 không có hộ khẩu thường trú tại địa phương nhưng thực tế có cư trú tại địa chỉ: Số F, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai”.
Quá trình Toà án giải quyết vụ án ông H không có mặt tham gia hòa giải tại Tòa án, còn bà N cương quyết xin ly hôn, cho thấy mâu thuẫn đã thật sự trầm trọng. Xét thấy, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu của bà N về việc xin ly hôn với ông H.
- Về con chung: Không có, nên không đặt ra xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Theo bà N trình bày tài sản chung không có, nợ chung không có. Do ông H không có lời khai nên tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.
- Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bà Trần Phú Minh N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004501 ngày 02/07/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Bà Trần Phú Minh N đã nộp xong án phí.
- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố Biên Hòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 203; Điều 220, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
Về hôn nhân: Bà Trần Phú Minh N được ly hôn với ông Đỗ Văn H.
Về con chung: Không có, không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Theo bà N trình bày tài sản chung không có, nợ chung không có. Do ông H không có lời khai nên tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.
Về án phí: Bà Trần Phú Minh N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004501 ngày 02/07/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Bà Trần Phú Minh N đã nộp xong án phí.
Bà Trần Phú Minh N, ông Đỗ Văn H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận: THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Đỗ Thị Huyền |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 434/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 434/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
