|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 434/2025/HNGĐ-ST Ngày 23/5/2025 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Trần Duyên Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Ngọc Đông.
- Ông Trần Ngọc Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Quang Trí là Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Trần Thanh Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 907/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Tống Hồng S, nơi cư trú: Tổ G, khu phố H phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Vắng mặt.
2. Bị đơn: Chị Phan Thị Bích L, nơi cư trú: Tổ G, khu phố H phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 14 tháng 10 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Tống Hồng S trình bày:
Anh và chị Phan Thị Bích L tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Q vào ngày 29/01/2018. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chung sống hạnh phúc, đến đầu năm 2021 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị L không lo làm ăn, chơi bời, làm phát sinh nợ nần nhiều người, nhiều lần; dù anh đã khuyên bảo nhưng chị L không nghe; sự việc kéo dài làm ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình. Vợ chồng anh đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị L.
Vợ chồng anh có 02 con chung là Tống Hoàng Thanh T (sinh ngày 07/6/2018) và Tống Hoàng Gia H (sinh ngày 20/12/2021), sức khỏe bình thường, đang ở với cha mẹ. Nếu ly hôn thì anh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con và không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, vợ chồng anh tự giải quyết, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn chị Phan Thị Bích L đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa làm việc và cũng không giao nộp văn bản ý kiến, tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
* Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát:
Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về giải quyết vụ án: Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 6 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Tống Hồng S.
- Về hôn nhân: Anh Tống Hồng S được ly hôn chị Phan Thị Bích L.
- Về con chung: Giao 02 cháu Tống Hoàng Thanh T (sinh ngày 07/6/2018) và Tống Hoàng Gia H (sinh ngày 20/12/2021) cho anh Tống Hồng S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
- Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Nguyên đơn anh Tống Hồng S yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn và nuôi con chung với bị đơn chị Phan Thị Bích L. Tại phiên tòa lần hai hôm nay, anh S và chị L đều vắng mặt, nhưng anh S có đơn đề nghị xét xử vắng mặt còn chị L vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền vụ án hôn nhân gia đình với quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” và phiên tòa vẫn được tiến hành xét xử theo quy định.
[2] Anh Tống Hồng S và chị Phan Thị Bích L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Q vào ngày 29/01/2018, nên hôn nhân giữa anh S và chị L là hôn nhân hợp pháp. Mâu thuẫn vợ chồng giữa anh S và chị L phát sinh từ đầu năm 2021, kép dài và cả hai đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn theo anh S khai là do: Chị L không lo làm ăn, chơi bời, làm phát sinh nợ nần nhiều người, nhiều lần; mặc dù anh đã khuyên bảo nhưng chị L không nghe; sự việc kéo dài làm ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình, tình cảm vợ chồng cũng không còn. Về phía chị L đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa, không gửi văn bản ý kiến, tỏ ra thờ ơ với hôn nhân của mình, không thể hiện ý chí, mong muốn hàn gắn mối quan hệ hôn nhân vốn đã có nhiều rạn nứt. Sự vi phạm nghiêm trọng về quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng nêu trên đã làm cho hôn nhân giữa anh S và chị L lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Cho nên, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử giải quyết cho anh S và chị L được ly hôn.
[3] Anh S và chị L có 02 con chung là Tống Hoàng Thanh T (sinh ngày 07/6/2018) và Tống Hoàng Gia H (sinh ngày 20/12/2021), sức khỏe bình thường. Anh S yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, chị L không có ý kiến gì. Xét điều kiện, hoàn cảnh của các bên trên cơ sở bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên, căn cứ vào Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình và Điều 6, Điều 7 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu T và cháu H cho anh S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; ghi nhận sự tự nguyện của anh S không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con.
[4] Về tài sản, do các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Theo Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, anh S phải chịu án phí về ly hôn là 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Tống Hồng S và chị Phan Thị Bích L.
- Về nuôi con chung:
- Giao cháu Tống Hoàng Thanh T (sinh ngày 07/6/2018) và cháu Tống Hoàng Gia H (sinh ngày 20/12/2021), đang ở với cha mẹ, cho anh Tống Hồng S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
- Ghi nhận sự tự nguyện của anh Tống Hồng S không yêu cầu chị Phan Thị Bích L cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nếu lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Tống Hồng S phải chịu án phí về ly hôn là 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000587 ngày 17 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Trần Duyên Anh |
Bản án số 434/2025/HNGĐ-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 434/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh S ly hôn chị L
