Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯƠNG MỸ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 434/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 06/9/2024

V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Dũng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thanh Hà, Bà Nguyễn Thị Luận

Thư ký phiên tòa: Ông Tô Mạnh Hà - Thư ký Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Gia Ánh - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 332/2024/TLST-HNGĐ ngày 19/7/2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị D, sinh năm 1984. Trú tại: Khu A, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Có Đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Bị đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm 1983. Hộ khẩu thường trú: Thôn Làng H, xã H, huyện C, thành phố Hà Nội. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam V, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.

Chị D và anh T đều có Đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo Đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn Chị Bùi Thị D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn với anh Lê Văn T, sinh năm 1983 tại UBND xã H, huyện C vào năm 2015. Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm. Chị có bỏ về nhà ở Bắc Giang từ năm 2015 đến nay không quay về nhà anh T nữa. Nay anh T cũng đã bị xét xử, phải đi chấp hành án tại trại giam trên huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc về tội cướp tài sản. Nay chị thấy tình cảm không thể hàn gắn nên đề nghị tòa án xem xét giải quyết cho được ly hôn với anh T

Về con chung: Vợ chồng chị Bùi Thị D và anh Lê Văn T có 1 con chung là Lê Minh Q, sinh ngày 12/8/2015 hiện đang ở cùng chị D. Chị D đề nghị được tiếp tục nuôi con do cháu còn nhỏ, được chị chăm sóc từ khi sinh ra. Chị D không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung do anh T hiện đang chấp hành án tại trại giam.

Về tài sản chung, công sức chung: Chị D trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị D trình bày không có.

Về án phí: Chị D tự nguyện chịu án phí theo quy định pháp luật.

2. Quá trình giải quyết vụ án do bị đơn anh Lê Văn T đang chấp hành án tại trại giam V, Tòa án án đã tiến hành tống đạt văn bản tố tụng trực tiếp cho anh T và lấy lời khai của anh T:

Về quan hệ hôn nhân: Anh T xác nhận có đăng ký kết hôn với chị D tại UBND xã H vào năm 2015. Quá trình chung sống, vợ chồng anh chị thường xuyên cãi vã, không cùng quan điểm sống và không chung sống với nhau. Nay chị D khởi kiện đề nghị ly hôn, quan điểm anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn, đồng ý ly hôn. Anh T cho biết hiện đang chấp hành án tại Trại giam V và đã có ý kiến trình bày với Tòa án về việc đồng ý ly hôn với chị D nên đề nghị vắng mặt trong quá trình Tòa án tiến hành xét xử vụ án.

Về con chung: Vợ chồng có có 1 con chung là Lê Minh Q, sinh ngày 12/8/2015 hiện đang ở cùng chị D. Khi ly hôn anh T tạm thời đồng ý giao chị D được nuôi con chung, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh T.

Về tài sản chung, công sức chung: Anh T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Anh T trình bày không có.

4. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ trình bày quan điểm:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật. Đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ, theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào ý kiến, quan điểm, Bản tự khai, Đơn đề nghị của nguyên đơn, bị đơn khai tại Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử, nghi nhận ý kiến thỏa thuận của đương sự, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Chị Bùi Thị D được ly hôn anh Lê Văn T.

Về con chung: Giao con chung là Lê Minh Q, sinh ngày 12/8/2015 cho Chị Bùi Thị D tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Việc cấp dưỡng do chị D không yêu cầu nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh T cho đến khi có sự thay đổi khác

Về tài sản chung, công sức, nợ chung: Không xem xét.

Về án phí: Chị D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Bùi Thị D có đơn khởi kiện đối với anh Lê Văn T về việc xin ly hôn, nuôi con nên xác định đây là vụ án Hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn – anh Lê Văn T thường trú tại thôn Làng Hạ, xã H, huyện C nên Tòa án Nhân dân huyện Chương Mỹ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay, các đương sự đã được tống đạt các văn bản tố tụng nhưng đều có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2] Về nội dung:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị D và anh Lê Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tuân thủ điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện C, Hà Nội năm 2015 nên hôn nhân giữa chị D và anh T là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi về chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, thời gian sau đó do anh T không quan tâm đến vợ con, chị D nghị ngờ anh T có người phụ nữ khác nên vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, hay xảy ra cãi vã, vợ chồng sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay, không quan tâm đến nhau. Trước yêu cầu của chị D xin ly hôn, anh T đồng ý, thực tế anh T cũng xác nhận anh chị cũng đã sống ly thân, không chung sống với nhau. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị D và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử căn cứ định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 ghi nhận sự thỏa thuận thuận tình ly hôn của chị Bùi Thị D và anh Lê Văn T.

2.2. Về con chung: Vợ chồng Chị Bùi Thị D và anh Lê Văn T có 1 con chung là Lê Minh Q, sinh ngày 12/8/2015, hiện cháu Q đang được chị D chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị D có yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Anh T đồng ý tạm giao con chung cho chị D nuôi dưỡng và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh T. Xét thấy, cháu Lê Minh Q, sinh ngày 12/8/2015 đang có cuộc sống ổn định với chị D, anh T đang chấp hành án tại trại giam nên việc giao con chung cho chị D tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị Bùi Thị D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Lê Văn T cho đến khi có sự thay đổi khác.

2.3. Về tài sản chung, công sức: Quá trình giải quyết vụ án các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án các đương sự xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2.4. Về án phí: Chị Bùi Thị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 70, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Áp dụng Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 234, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về hôn nhân: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự: Chị Bùi Thị D được ly hôn với anh Lê Văn T.
  2. Về con chung: Giao con chung Lê Minh Q cho Chị Bùi Thị D được quyền nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có quyết định thay đổi khác.

Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Lê Văn T đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác.

Anh Lê Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

  1. Về tài sản chung, công nợ chung, công sức chung: Không xem xét.
  2. Về án phí: Chị Bùi Thị D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0002242/BLTU/23 ngày 19/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
  3. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND Tp. Hà Nội;
  • - VKSND huyện Chương Mỹ;
  • - Chi cục THADS huyện Chương Mỹ;
  • - UBND xã Hoàng Diệu, huyện Chương Mỹ
  • (Trường hợp án có HLPL);
  • - Lưu HSVA – VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Việt Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 434/2024/HNGĐ-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 434/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hôn nhân gia đình
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger