Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BA ĐÌNH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 434/2024/HNGĐ-ST

Ngày 20 tháng 6 năm 2024

V/v: Xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Sen

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Bá Xuân

2. Bà Bùi Thị Hạnh

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Quang Huy – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Ba Đình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa: Bà Đào Linh Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 287/2024/TLST – HN&GĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 172/2024/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa 111/2024/QĐST-HPT ngày 20 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1984; HKTT và nơi ở: P, phường C, quận B, thành phố Hà Nội; Chị M có mặt.

- Bị đơn: Anh Đỗ Khắc H, sinh năm 1982; HKTT: Xã M, huyện H, thành phố Hà Nội; Nơi ở: P, phường C, quận B, thành phố Hà Nội. Anh H vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, Nguyên đơn – chị Nguyễn Thị Tuyết M trình bày:

Về tình cảm: Chị và anh Đỗ Khắc H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, Hà Nội ngày 26/12/2011.

Sau khi kết hôn chị và anh H về sống nhờ nhà bố mẹ đẻ chị tại địa chỉ P (Nay là số nhà A, ngõ G phố K), phường C, quận B, thành phố Hà Nội và sống ổn định tại đây cho đến nay.

Trong quá chung sống, cuộc sống chung của anh chị không hòa thuận, thường xuyên cãi vã. Mặc dù sống chung một nhà nhưng vợ chồng mỗi người một phòng, sống ly thân từ tháng 2 năm 2024 đến nay.

Năm 2023, chị đã nộp đơn ly hôn ra Tòa án nhưng sau đó anh H thay đổi thái độ nên chị đã rút đơn để vợ chồng đoàn tụ. Nhưng sau khi rút đơn về, anh H vẫn không thay đổi. Vợ chồng thường xuyên cãi vã, cuộc sống không hạnh phúc.

Nay chị cảm thấy cuộc sống đã quá mệt mỏi, mục đích hôn nhân không đạt được, chị không còn tình cảm với anh H. Vì vậy, chị M đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.

- Về con chung: Chị M và anh H có 02 con chung là Đỗ Anh K, sinh ngày 10/9/2013 và Đỗ Thị Mỹ D, sinh ngày 02/12/2016. Hiện nay cả 02 con chung đều đang sống cùng chị và anh H. Ly hôn chị M đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đỗ Thị Mỹ D, anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đỗ Anh K. Chị và anh H không phải đóng góp tiền nuôi con cho nhau.

- Về tài sản và nhà ở (động sản và bất động sản): Chị M và anh H không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn, anh chị tự lo chỗ ở.

- Về nợ: Chị M và anh H không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì khác.

* Trong các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, Bị đơn – anh Đỗ Khắc H trình bày:

Về tình cảm: Anh H và chị Nguyễn Thị Tuyết M kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, Hà Nội ngày 26/12/2011.

Sau khi kết hôn anh và chị M về sống nhờ nhà bố mẹ đẻ của chị M tại địa chỉ P (Nay là số nhà A, ngõ G phố K), phường C, quận B, thành phố Hà Nội và sống ổn định tại đây cho đến nay.

Trong quá chung sống, cuộc sống chung của anh chị không hòa thuận, thường xuyên cãi vã. Vợ chồng mâu thuẫn sâu sắc từ tháng 2 năm 2024 đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống gia đình.

Năm 2023 chị M đã nộp đơn ly hôn ra Tòa án nhưng sau đó chị M rút đơn ly hôn về để vợ chồng đoàn tụ. Nhưng sau khi rút đơn về, đến đầu năm 2024 vợ chồng mâu thuẫn nên chị M lại nộp đơn ly hôn ra Tòa án nhân dân quận Ba Đình.

Nay chị M xin ly hôn, ý kiến của Anh H là anh không đồng ý ly hôn vì các con của anh chị còn nhỏ, anh muốn các con được sống cùng bố và mẹ. Về tình cảm anh và chị M vẫn bình thường.

- Về con chung: Anh H và chị M có 02 con chung là Đỗ Anh K, sinh ngày 010/9/2013 và Đỗ Thị Mỹ D, sinh ngày 02/12/2016. Hiện nay cả 02 con chung đều đang sống cùng anh và chị M. Ly hôn anh H đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con cháu Đỗ Thị Mỹ D và cháu Đỗ Anh K. Anh không yêu cầu chị M phải đóng góp tiền nuôi con. Thu nhập của anh H hiện nay khoảng 10.000.000đồng/ tháng. Nếu được nuôi con, anh H sẽ thuê nhà ở ngoài để bố con anh ở.

- Về tài sản và nhà ở (động sản và bất động sản): Anh H và chị M không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn, anh chị tự lo chỗ ở.

- Về nợ: Anh H và chị M không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì khác.

Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về việc triệu tập lấy lời khai và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn, tuy nhiên bị đơn chỉ đến Tòa án 1 lần và vắng mặt trong các phiên hòa giải, vì vậy Tòa án không tiến hành hòa giải cho các đương sự được. Do đó, Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 20/5/2024, cháu Đỗ Anh K và cháu Đỗ Thị Mỹ D (là con của chị Nguyễn Thị Tuyết M và anh Đỗ Khắc H) cùng có nguyện vọng xin được ở với anh H.

Tại biên bản ghi ý kiến ngày 28/5/2024, đại diện tổ dân phố số C, phường C, B, Hà Nội cung cấp: Chị Nguyễn Thị Tuyết M và anh Đỗ Khắc H cùng sinh sống tại địa chỉ P, phường C, quận B, thành phố Hà Nội (nay là số nhà A, ngõ G, phố K). Qúa trình chung sống tại địa phương giữa chị M và anh H có mâu thuẫn hay không thì tổ dân phố không nắm được. Anh H và chị M có 02 con chung là cháu Đỗ Anh K và cháu Đỗ Thị Mỹ D. Về tài sản chung, nhà ở chung và công nợ: tổ dân phố không nắm được. Về việc chị M có đơn xin ly hôn anh H, tổ dân

phố đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Tổ dân phố đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án và đã giao cho anh Đỗ Khắc H. Anh H đã nhận các văn bản của Tòa án và không có ý kiến gì.

* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;

Về nội dung giải quyết: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, các Điều 51; 56; 57 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị xử cho chị Nguyễn Thị Tuyết M được ly hôn anh Đỗ Khắc H; về con chung: Giao con chung là cháu Đỗ Thị Mỹ D, sinh ngày 02/12/2016 cho chị Nguyễn Thị Tuyết M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; giao cháu Đỗ Anh K, sinh ngày 10/9/2013 cho anh Đỗ Khắc H trực tiếp trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, chị M và anh H không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Về tài sản chung và nợ chung: Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét. Về án phí: Chị M phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị Tuyết M nộp đơn khởi kiện xin ly hôn đối với anh Đỗ Khắc H. Đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Đỗ Khắc H là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại: P, phường C, quận B, thành phố Hà Nội (nay là số nhà A, ngõ G, phố K) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ba Đình theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục giải quyết vụ án: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đối với anh H theo quy định của pháp luật nhưng anh H vẫn không đến tham gia tố tụng và không tham gia xét xử tại phiên tòa. Đây là lần thứ 2 anh H vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Vì vậy, căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh H.

[2] Về nội dung: Căn cứ vào lời khai của đương sự, căn cứ và các chứng cứ do các đương sự cung cấp và các chứng cứ do Tòa án đã thu thập, có đủ cơ sở xác định: Chị Nguyễn Thị Tuyết M và anh Đỗ Khắc H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, thành phố Hà Nội ngày 26/12/2011. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.

Quá trình chung sống, vợ chồng chị M, anh H phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do quan điểm sống của hai người không hợp nhau, cuộc sống chung không hạnh phúc. Mặc dù sống chung một nhà nhưng vợ chồng mỗi người một phòng, sống ly thân từ tháng 2 năm 2024 đến nay. Năm 2023, chị M đã nộp đơn ly hôn ra Tòa án nhưng sau đó chị đã rút đơn để vợ chồng đoàn tụ. Nhưng sau khi rút đơn về, vợ chồng vẫn tiếp tục mâu thuẫn. Anh H không đến Tòa án để thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn, không có ý kiến đề nghị Tòa án hòa giải cho vợ chồng về đoàn tụ.

Xét thấy, mâu thuẫn giữa vợ chồng chị Nguyễn Thị Tuyết M và anh Đỗ Khắc H đã căng thẳng, trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị M đối với anh H là có căn cứ chấp nhận.

[3] Về việc nuôi con chung: Chị M và anh H có 02 con chung là: Cháu Đỗ Anh K, sinh ngày 10/9/2013 và cháu Đỗ Thị Mỹ D, sinh ngày 10/9/2016. Tại đơn khởi kiện, chị M xin được nuôi cả 2 con chung, sau đó chị M thay đổi yêu cầu và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đỗ Thị Mỹ D, anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đỗ Anh K. Chị và anh H không phải đóng góp tiền nuôi con cho nhau. Tại phiên tòa, chị M trình bày: Hiện nay thu nhập của chị khoảng 4.000.000đồng/tháng, do chị lao động tự do nên không có xác nhận thu nhập để nộp cho Tòa án.

Anh H có nguyện vọng xin được nuôi cả 2 con chung. Anh H trình bày thi nhập của anh khoảng 10.000.000đồng/tháng. Tuy nhiên, anh H không xuất trình tài liệu chứng cứ chứng minh cho thu nhập của mình. Nếu được nuôi con anh sẽ thuê nhà để ở.

Tại Biên bản ghi lời khai ngày 20/5/2024, cháu Đỗ Anh K và cháu Đỗ Thị Mỹ D có nguyện vọng xin được ở với anh H sau khi chị M, anh H ly hôn.

Hội đồng xét xử nhận thấy, việc giao con cho ai nuôi dưỡng phải căn cứ vào điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng của bố mẹ, nguyện vọng của các con và cũng không làm ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của các con chung. Xét thấy nên giao cho chị M và anh H mỗi người nuôi 1 con để đảm bảo quyền lợi của các con chung cũng như quyền được nuôi dưỡng con chung của chị M và anh H.

Cháu Đỗ Thị Mỹ D là con gái và còn nhỏ, cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ. Vì vậy, giao cháu Đỗ Anh K cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giao cháu Đỗ Thị Mỹ D cho chị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với điều kiện của anh chị và các quy định của pháp luật. Anh H và chị M không phải đóng góp tiền nuôi con cho nhau.

[4] Về tài sản chung (động sản và bất động sản): Chị M và anh H cùng xác nhận không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét, giải quyết. Anh H không có yêu cầu về quyền lưu cư nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về khoản nợ: Chị M và anh H xác nhận anh chị không có nợ ai, không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị M phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo: Chị M và anh H có quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

[7] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa là có cơ sở, phù hợp với các quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các căn cứ và nhận định trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, 228, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 39 Bộ luật dân sự;

Căn cứ Điều 51; Điều 56; 58, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Tuyết M.

2. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Tuyết M được ly hôn anh Đỗ Khắc H.

3. Về việc nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Tuyết M và anh Đỗ Khắc H xác nhận có 02 con chung là: Cháu Đỗ Anh K, sinh ngày 10/9/2013 và cháu Đỗ Thị Mỹ D, sinh ngày 10/9/2016.

Giao cháu Đỗ Anh K cho anh Đỗ Khắc H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao cháu Đỗ Thị Mỹ D cho chị Nguyễn Thị Tuyết M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị M và anh H không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Anh Đỗ Khắc H và chị Nguyễn Thị Tuyết M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

4. Về tài sản chung và nhà ở chung (động sản và bất động sản): Tòa án không xem xét, giải quyết.

- Về các khoản nợ: Tòa án không xem xét, giải quyết.

5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Tuyết M phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp theo biên lai thu số 0030001 ngày 06 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Án xử công khai sơ thẩm, chị Nguyễn Thị Tuyết M có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Đỗ Khắc H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - VKSND quận Ba Đình;
  • - Chi Cục THA dân sự quận Ba Đình;
  • - UBND phường/xã nơi ĐKKH;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Sen

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 434/2024/HNGĐ-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về xin ly hôn

  • Số bản án: 434/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án hôn nhân sơ thẩm giữa chị Nguyễn Thị Tuyết M và anh Đỗ Khắc H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger