Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 434/2024/HSPT

Ngày: 12/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Vĩnh Yên.

Các thẩm phán: Bà Đỗ Thị Nhung.

Ông Nguyễn Trung Hưng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Ánh Nhi - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Phạm Quang Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 277/2024/TLPT-HS ngày 26 tháng 06 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 360/2024/QĐXXPT-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 252/2020/HS-QĐ ngày 22/8/2024. Do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 403/2023/HSST ngày 18/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai. Các bị cáo bị kháng nghị:

  1. Lê Huỳnh Đ, sinh năm 2001 tại Kiên Giang; Nơi thường trú: Ấp X, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang; nơi ở hiện tại: Ấp C, xã L, huyện N, Đồng Nai, Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 8/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Con ông Lê Văn H, sinh năm 1978 và bà Lê Thị Út H1, sinh năm 1980; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị tạm giữ từ ngày 27/7/2023 đến ngày 03/8/2023 chuyển tạm giam. Đến ngày 18/12/2023 được tự do tại phiên phiên tòa theo bản án hình sự sơ thẩm số: 403/2023/HSST ngày 18/12/2023 của tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.

    (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

  2. Hồ Văn C, sinh năm 1985 tại Đồng Nai; Nơi thường trú: Tổ B, khu phố T, phường P, B, Đồng Nai; nơi ở hiện tại: Tổ B, khu phố T, phường P, B, Đồng Nai, Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 04/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Con ông Hồ Vắn T, sinh năm 1955 (Đã chết) và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1954 (còn sống); có vợ tên Lê Thị Hồng L, sinh năm 1986, có 02 con lớn nhất sinh năm 2008 và nhỏ nhất sinh năm 2014.

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị tạm giữ từ ngày 16/8/2023 đến ngày 25/8/2023 chuyển tạm giam. Đến ngày 18/12/2023 được tự do tại phiên phiên tòa theo bản án hình sự sơ thẩm số: 403/2023/HSST ngày 18/12/2023 của tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.

    (Bị cáo vắng mặt tại phiên tòa).

Ngoài ra còn có bị cáo khác, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dương Văn G là tài xế xe nâng của Công ty TNHH H3 thuộc khu Công nghiệp F, huyện N, tỉnh Đồng Nai do biết trong kho chứa hàng thành phẩm của Công ty có để nhiều cuộn vải xuất còn dư nên đã nảy sinh ý định trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Gan rủ Lê Huỳnh Đ làm ở bộ phận kiểm hàng của Công ty H3 trộm các cuộn vải thành phẩm của Công ty mang ra ngoài bán, Đ đồng ý. Sau đó, G đến gặp Hồ Văn C tài xế xe ô tô biển kiểm soát 60C-148.27 (do anh Lê Minh H2 thuê để chở hàng cho Công ty TNHH H3) rủ C trộm cắp các cuộn vải mang ra ngoài cho G đem bán, G trả công cho C 2.000.000 đồng, C đồng ý. Gan, Đ và C đã trực tiếp thực hiện 02 lần trộm cắp tài sản của Công ty TNHH H3, cụ thể như sau:

  • Lần thứ nhất: Vào ngày 30/7/2022, Đ sử dụng xe nâng trộm 33 cuộn vải, loại VS-1043-36-STR-S9A3, tổng trọng lượng 716,6 kg từ kho thành phẩm chuyển vào thang máy đưa xuống tầng trệt để cho G dùng xe nâng đưa toàn bộ số hàng trộm cắp được bỏ lên xe cho C chở ra ngoài. Sau đó, G cùng với C chở đến xã L, huyện L bán cho anh Lưu Quý M (sinh năm 1983) được 43.000.000 đồng, G đưa C 2.000.000 đồng, Đ 6.000.000 đồng còn lại 35.000.000 đồng Gan tiêu xài cá nhân hết.
  • Lần thứ hai: Vào ngày 30/8/2022, Đ tiếp tục sử dụng xe nâng trộm 26 cuộn vải dệt kim VS-1043-36-STR-S9A3, tổng trọng lượng 550 kg từ kho thành phẩm chuyển vào thang máy đưa xuống tầng trệt để cho G dùng xe nâng đưa toàn bộ số hàng trộm cắp được bỏ lên xe cho C chở ra ngoài. Sau đó, G cùng với C chở đến xã L, huyện L bán cho anh Lưu Quý M được 33.000.000 đồng, G đưa C 2.000.000 đồng, Đ 5.000.000 đồng còn lại 26.000.000 đồng Gan tiêu xài cá nhân hết.

Đến ngày 23/7/2023, Công ty TNHH H3 kiểm tra kho thành phẩm thì phát hiện bị mất số lượng lớn sản phẩm là các cuộn vải thành phẩm nên đã làm đơn trình báo Cơ quan điều tra Công an huyện N lập hồ sơ xử lý. Sau đó, Dương Văn G, Lê Huỳnh Đ và Hồ Văn C lần lượt đến Cơ quan điều tra Công an huyện N đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 155/KLGĐ-HĐĐG ngày 28/7/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự kết luận: 1,266,6 kg vải dệt kim, loại VS-1043-36-STR-S9A3, giá trị sử dụng 100%. Tổng giá trị tài sản định giá 86.388.877 đồng

- Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo phạm tội 02 lần trở lên.

- Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, bị cáo C có xác nhận của UBND phường P, Thành phố B là hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình.

Tang vật thu giữ gồm:

  • 59 cuộn vải dệt kim, loại VS-1043-36-STR-S9A3 có tổng trọng lượng 1,266,6kg do anh Lưu Quý M giao nộp. Hiện Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho Công ty TNHH H3 là đúng quy định.
  • 01 điện thoại di động hiệu Vivo, gắm sim 0912000160 của Dương Văn G.
  • Số tiền 14.000.000 đồng do các bị cáo Dương Văn G và Hồ Văn C tự nguyện giao nộp.

(Toàn bộ số vật chứng nêu trên được bàn giao theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai).

Trách nhiệm dân sự:

Tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả cho Công ty TNHH H3, công ty không có yêu cầu gì khác.

Anh Lưu Quý M yêu cầu các bị cáo G, Đ, C bồi thường số tiền 76.000.000 đồng.

* Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 403/2023/HSST ngày 18/12/2023 của tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai đã tuyên xử: Tuyên bố các bị cáo Dương Văn G, Lê Huỳnh Đ, Hồ Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 2 Điều 173, Điều 17, Điều 38, Điều 58, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Dương Văn G 03 (Ba) năm tù thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt ngày 27/7/2023.

Áp dụng khoản 2 Điều 173, Điều 17, Điều 58, Điều 60, Điều 65, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52;

Điều 2 Nghị quyết 02/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Áp dụng khoản 5 Điều 1 Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022.

Xử phạt bị cáo Lê Huỳnh Đ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm và thực hiện nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Áp dụng khoản 2 Điều 173, Điều 17, Điều 58, Điều 60, Điều 65, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52;

Điều 2 Nghị quyết 02/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Áp dụng khoản 5 Điều 1 Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022.

Xử phạt bị cáo Hồ Văn c 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm và thực hiện nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

- Ngoài ra án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

* Tại Thông báo sữa chữa, bổ sung số: 298/2024/TB-TA ngày 28 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch nội dung như sau:

1. Về nội dung tại dòng thứ 11 từ dưới lên trang 01 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi:

+ ... “Bị cáo có vợ tên Tràn Thị Kiều A”....

Nay được sửa chữa, bổ sung như sau:

+ ...“ Bị cáo có vợ tên Trần Thị Kiều A1 ”...

Về nội dung tại dòng thứ 10 từ trên xuống trang 02 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi:

+...“Con ông Hồ Vắn T, sinh năm 1965”...

Nay được sửa chữa, bổ sung như sau:

+...“ Con ông Hồ Văn T2, sinh năm 1965 ”...

Về nội dung tại dòng thứ 15 từ dưới lên trang 05 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi:

+“ điểm b, điềm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự”...

Nay được sửa chữa, bổ sung như sau:

+“điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự”...

Về nội dung tại dòng thứ 20 đến dòng thứ 21 từ dưới lên trang 06 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi:

+“ Biên lai thu tiền số: 0007258 ngày 11 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Nhơn Trạch để đảm bảo thi hành án”.

Nay được sửa chữa, bổ sung như sau:

+ “Biên lai thu tiền số: 0007258 ngày 13 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Nhơn Trạch để đảm bảo thi hành án”.

Về nội dung tại dòng thứ 12 dến dòng thứ 15 từ trên xuống trang 08 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi:

+ “ (Toàn bộ số vật chứng nêu trên được bàn giao theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai).

Về án phí hình sự sơ thẩm ....”

Nay được sửa chữa, bổ sung như sau:

+ “(Toàn bộ số vật chứng nêu trên được bàn giao theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai).

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra giải quyết.

Anh Lưu Quý M yêu cầu các bị cáo G, Đ, C liên đới bồi thường số tiền 76.000.000 đồng, các bị cáo đồng ý, các bị cáo phải bồi thường cho anh M số tiền như sau: Bị cáo Dương Văn G phải bồi thường số tiền 61.000.000 đồng, bị cáo Hồ Văn C phải bồi thường số tiền 4.000.000 đồng, bị cáo Lê Huỳnh Đ phải bồi thường số tiền 11.000.000 đồng.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 10.000.000 đồng do bị cáo Lê Huỳnh Đ nộp theo Biên lai thu tiền số: 0007251 ngày 01 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Nhơn Trạch để đảm bảo thi hành án.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 4.000.000 đồng do bị cáo Hồ Văn C nộp theo Biên lai thu tiền số:0007260 ngày 14 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Nhơn Trạch để đảm bảo thi hành án.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 2.000.000 đồng do bị cáo Dương Văn G nộp theo Biên lai thu tiền số: 0007258 ngày 13 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Nhơn Trạch để đảm bảo thi hành án.

Về án phí hình sự sơ thẩm ....”

* Tại Thông báo sữa chữa, bổ sung số: 05/2024/TB-TA ngày 27 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch nội dung như sau:

1. Về nội dung tại dòng thứ 8 đến dòng thứ 9 từ dưới lên trang 01 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi:

+ “ Bị tạm giữ từ ngày 27/7/2023 đến ngày 03/8/2023 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện N”

Nay được sửa chữa, bổ sung như sau:

“Bị tạm giữ từ ngày 25/7/2023 đến ngày 03/8/2023 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện N”.

+ Về nội dung tại dòng thứ 27 đến dòng 28 từ dưới lên trang 7 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi:

“ Xử phạt bị cáo Dương Văn G 03 (Ba) năm tù thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt ngày 27/7/2023".

Nay được sửa chữa, bổ sung như sau:

“Xử phạt bị cáo Dương Văn G 03 (Ba) năm tù thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt ngày 25/7/2023 ”.

2. Các nội dung khác của bản án được giữ nguyên.

* Tại Quyết định kháng nghị số: 11/QĐ-VKS-P7 ngày 16/01/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã kháng nghị phúc thẩm đối với bản án hình sự sơ thẩm số 403/2023/HSST ngày 18/12/2023 của tòa án nhân dân huyện nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai. Đề nghị TAND tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm theo hướng sửa bản án hình sự sơ thẩm số 403/2023/HSST ngày 18/12/2023 của tòa án nhân dân huyện nhơn Trạch, không cho hưởng án treo đối với các bị cáo Lê Huỳnh Đ và Hồ Văn C.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:

Các bị cáo Đ, C phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự, là tội phạm nghiêm trọng, có khung hình phạt từ 02 đến 07 năm tù. Trong vụ án này, các bị cáo Đ và C có tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo Đ là người thực hiện tích cực hành vi phạm tội, có vai trò là người trực tiếp lấy trộm tài sản. Còn bị cáo C là người thực hiện tích cực hành vi phạm tội, có vai trò là người vận chuyển số hàng trộm được mang ra ngoài cho G đi tiêu thụ. Các bị cáo không phải là người có vai trò giúp sức không đáng kể nhưng Bản án hình sự sơ thẩm của tòa án nhân dân huyện nhơn Trạch lại xử phạt bị cáo Đ và C mỗi bị cáo 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm đã vị phạm điểm b, c khoản 5 Điều 3 Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo.

Từ những nhận định trên. Đề nghị TAND tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm theo hướng sửa bản án hình sự sơ thẩm số 403/2023/HSST ngày 18/12/2023 của tòa án nhân dân huyện nhơn Trạch, không cho hưởng án treo đối với các bị cáo Lê Huỳnh Đ và Hồ Văn C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng: Quyết định kháng nghị số: 11/QĐ-VKS-P7 ngày 16/01/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai ban hành trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
  2. Về kháng nghị của Viện trưởng Viên kiểm sát nhân dân tỉnh Đ cho rằng: Các bị cáo Đ, C phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự, là tội phạm nghiêm trọng, có khung hình phạt từ 02 đến 07 năm tù. Trong vụ án này, các bị cáo Đ và C có tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo Đ là người thực hiện tích cực hành vi phạm tội, có vai trò là người trực tiếp lấy trộm tài sản. Còn bị cáo C là người thực hiện tích cực hành vi phạm tội, có vai trò là người vận chuyển số hàng trộm được mang ra ngoài cho G đi tiêu thụ. Các bị cáo không phải là người có vai trò giúp sức không đáng kể nhưng Bản án hình sự sơ thẩm của tòa án nhân dân huyện nhơn Trạch lại xử phạt bị cáo Đ và C mỗi bị cáo 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm đã vị phạm điểm b, c khoản 5 Điều 3 Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo.

    Xét thấy, kháng nghị của Viện trưởng Viên kiểm sát nhân dân tỉnh Đ là đúng quy định của pháp luật. Bởi vì, các bị cáo Đ và C phạm tội nghiêm trọng. Trong vụ án này các bị cáo Đ và C có tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Các bị cáo đồng phạm và có vai trò như nhau. Người chủ mưu cầm đầu là G; Đ là người trực tiếp lấy trộm tài sản; Còn bị cáo C là người vận chuyển số hàng trộm được mang ra ngoài đưa cho G đi tiêu thụ như vậy họ không phải là người có vai trò giúp sức không đáng kể. Như vậy các bị cáo không đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định. Nhưng cấp sơ thẩm lại xử phạt bị cáo Đ và C mỗi bị cáo 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm là không đúng quy định của pháp luật, đã vị phạm điểm b, c khoản 5 Điều 3 Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo.

    Từ những nhận định trên, chấp nhận kháng nghị số: 11/QĐ-VKS-P7 ngày 16/01/2024 của Viện trưởng VKSND tỉnh Đồng Nai, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 403/2023/HSST ngày 18/12/2023 của tòa án nhân dân huyện nhơn Trạch, không cho hưởng án treo đối với các bị cáo Lê Huỳnh Đ và Hồ Văn C. Áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo nhằm trừng trị, giáo dục, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm và xử phạt Lê Huỳnh Đ và Hồ Văn C mổi bị cáo 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù là có cơ sở đúng quy định của pháp luật.

  3. Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên công nhận.
  4. Về án phí: Các bị cáo không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Chấp chấp nhận kháng nghị số: 11/QĐ-VKS-P7 ngày 16/01/2024 của Viện trưởng VKSND tỉnh Đồng Nai, sửa bản án hình sự sơ thẩm số : 93/2020/HSST ngày 14/9/2020 của tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.

Tuyên bố các bị cáo Lê Huỳnh Đ, Hồ Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, Điều 17, Điều 38, Điều 58, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

  • Xử phạt bị cáo Lê Huỳnh Đ 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù.

    Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở chấp hành án. Nhưng được trừ vào thời gian bị tạm giam từ ngày 27/7/2023 đến ngày 18/12/2023.

  • Xử phạt bị cáo Hồ Văn c 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở chấp hành án. Nhưng được trừ vào thời gian bị tạm giam từ ngày 16/8/2023 đến ngày 18/12/2023.

Về án phí: Các bị cáo không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Cục THADS tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự tỉnh ĐN
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - TAND huyện Nhơn Trạch;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Vĩnh Yên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 434/2024/HSPT ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự phúc thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 434/2024/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger