TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 434/2024/HS-PT Ngày: 03 - 06 - 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Công Mười
Các Thẩm phán: Ông Lê Văn An
Bà Nguyễn Thị Thanh
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cường - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu, xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 03/2024/TLPT- HS ngày 03 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo Đinh Vũ A do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2023/HSST ngày 23 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
* Bị cáo có kháng cáo: Đinh Vũ A, sinh ngày 20 tháng 10 năm 2000 tại Bạc Liêu. Nơi cư trú: ấp B, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn P và bà Phạm Thị C; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 01 tháng 3 năm 2023 cho đến nay.
(Vụ án còn có 07 bị cáo khác không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 19 tháng 6 năm 2022, Công an thị xã G, tỉnh Bạc Liêu bắt quả tang tại Cơ sở karaoke S thuộc Khóm E, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu như sau:
- Tại Phòng số 06 có Trần Công T, Phan Nhựt D, Trương Hoàng Đ, Trần Đô M, Phạm Quốc K đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và thu giữ nhiều đồ vật, tài sản có liên quan. Vụ việc đã được Tòa án nhân dân thị xã Giá
Rai xét xử tại Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2023/HS-ST ngày 30 tháng 05 năm 2023 đối với các bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Hiện nay bản án đã có hiệu lực pháp luật.
- Tại Phòng số 08 có Lâm Duy K1, Phạm Bảo B, Trần Kim C1, Nguyễn Thị Diễm T1 đang có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, thu giữ: 01 ống hút bằng giấy cứng màu trắng; 01 gói nylon bên trong có chứa chất nghi là ma túy; 02 bóp da và 04 điện thoại di động; 03 mãnh sứ bị vỡ.
+ Tại Kết luận giám định số 61/KL-KTHS, ngày 28 tháng 6 năm 2022, của Phòng K3 thuộc Công an tỉnh B, kết luận:
Không tìm thấy chất ma túy, tiền chất ma túy bên trong một phần viên nén màu trắng- xanh (kí hiệu M1);
Chất rắn màu trắng, dạng tinh thể bên trong gói nylon (kí hiệu M2) là chất ma túy; loại ketamine; có khối lượng: 0,16436 gam.
+ Quá trình điều tra chứng minh được: vào khoảng 21 giờ ngày 18 tháng 6 năm 2022, bị cáo C1, bị cáo K1 cùng với Nguyễn Thị Diễm T1 và Phạm Bảo B uống rượu tại quán N1 thuộc xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, bị cáo K1 gợi ý tìm nơi sử dụng trái phép chất ma túy nên bị cáo C1 rủ đến Karaoke Song Ngân, tất cả đồng ý. Trên đường đi, bị cáo C1 nhắn tin qua phần mềm Messenger cho bị cáo L (do bị cáo C1 nhiều lần đến Cơ sở karaoke Song N sử dụng ma túy nên quen biết bị cáo L). Bị cáo C1 và bị cáo K1 mỗi người góp 1.000.000 đồng mua ma túy của người nam (không rõ lai lịch), đến khoảng 30 phút sau thì đến Cơ sở karaoke Song N; khi đến bị cáo L đã chuẩn bị nhạc, trái cây, dụng cụ sử dụng ma túy (dĩa sành màu trắng, một cái ống hút, một cái thẻ bằng nhựa) tại Phòng số 8. Bị cáo K1 phân ma túy để cùng sử dụng thì bị bắt quả tang.
Đồng thời, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã G, tỉnh Bạc Liêu thực hiện lệnh khám xét khẩn cấp Cơ sở Karaoke Song Ngân, do vợ chồng bị cáo V và bị cáo V1 làm chủ.
Qua khám xét phát hiện và thu giữ nhiều đồ vật, tài sản (ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy, dụng cụ bán ma túy và nhiều tang vật khác), trong đó có:
- Gói niêm phong số 02, tại vị trí bên trong ngăn tủ kéo nơi bị cáo V đang ngồi: 01 túi nylon màu trắng gần nẹp miệng có viền màu xanh bên trong có nhiều hạt tinh thể màu trắng nghi là ma túy.
- Gói niêm phong số 04, vị trí bên trong ngăn tủ kéo nơi bị cáo V đang ngồi: 01 túi da màu xám có chữ CG có dây kéo, kích thước 13cm x 9,5cm, bên trong có 05 gói nylon màu trắng, nẹp miệng có viền màu xanh, kích thước lần lượt: 3,9cm x 3cm, 4,1cm x 3,1cm, 3,8cm x 3,1cm, 4,1cm x 3cm bên trong có nhiều hạt tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy, 01 hộp nhựa màu trắng có chữ COOLAIR, bên trong có 33 viên nén màu xanh và 3,5 viên màu cam, 01 hộp kim loại nhiều màu sắc có kích thước 8,6cm x 1,6cm x 1,2cm trên hộp có chữ
mentos, bên trong có 04 gói nylon màu trắng, nẹp miệng, viền màu xanh, bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể nghi là chất ma túy, trong đó 04 gói đều có kích thước bằng nhau là 2,5cm x 2,5cm và 01 gói có kích thước 2,5cm x 2,2cm.
- Gói niêm phong số 05: 04 ống hút bằng giấy trắng có chấm bi màu xanh, 02 ống hút bằng tiền có quấn giấy, 08 thẻ nhựa. Vị trí bên trong ngăn tủ kéo nơi bị cáo V đang ngồi.
- Gói niêm phong số 08: tại nhà vệ sinh có 01 tủ kim loại màu trắng, được khóa bên ngoài bằng ổ khóa số màu vàng, bên trong có nhiều loại bịch nylon, có nẹp miệng, viền màu đỏ, 01 hộp nhựa màu đen trên nắp có chữ happy, bên trong có 03 bọc nhựa, trong đó 01 bọc màu trắng có nẹp miệng kích thước 14cm x 0,8cm chứa nhiều hạt tinh thể nghi là chất ma túy, 01 bịch kích thước 13cm x 8,5 cm bên trong có 106 viên nén màu xanh, bịch còn lại có kích thước 11cm x 07cm bên trong có 94 viên nén màu xanh.
- Gói niêm phong số 09: trong phòng ngủ của bị cáo V và bị cáo V1, có tủ gỗ màu tím có 01 túi vải quai xách màu cam, kích thước 29,5cm x 25cm, bên trong có nhiều túi nylon có nẹp miệng kích thước khác nhau, 01 hộp nhựa màu xanh kích thước 8,4cm x 9,8cm x 9cm, 02 cây cân điện tử;
- Gói niêm phong số 14: trên kệ trong phòng quản lý, điều hành có 13 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 1.000đ, có tờ bị cháy xém, 01 ống nhựa màu trắng được cắt nhọn một đầu có kích thước 6cm x 0,8cm.
Tại Kết luận giám định số 63/KL-KTHS, ngày 24 tháng 6 năm 2022, của Phòng K3 thuộc Công an tỉnh B, kết luận:
- Chất bột màu trắng, dạng tinh thể chứa trong 01 gói nylon (kí hiệu M1) là chất ma túy; loại Ketamine; có khối lượng là 0,06306 gam.
- Chất gắn màu trắng, dạng tinh thể chứa trong 05 gói nylon (ký hiệu M2) là chất ma túy; loại Ketamine; có tổng khối lượng là 7,92029 gam.
- Chất rắn màu trắng, dạng tinh thể chứa trong 04 gói nylon (ký hiệu M3) là chất ma túy; loại ketamine; có tổng khối lượng là 2,19313 gam.
- 33 viên nén màu xanh và 3,5 viên nén màu cam (kí hiệu M4) là chất ma túy; loại Methylenedioxymethamphetamine (MDMA); có tổng khối lượng là 11,94885 gam.
- 106 viên nén màu xanh chứa trong gói nylon (kí hiệu M5) là chất ma túy; loại Methylenedioxymethamphetamine (MDMA); có tổng khối lượng là 35,000101 gam.
- 94 viên nén màu xanh chứa trong gói nylon (kí hiệu M6) là chất ma túy; loại Methylenedioxymethamphetamine (MDMA); có tổng khối lượng là 31,07436 gam.
- Chất rắn màu trắng, dạng tinh thể chứa trong 01 gói nylon (kí hiệu M7) là chất ma túy; loại ketamine; có khối lượng 23,13364 gam.
Trong đó: Methylenedioxymethamphetamine (MDMA) có tổng khối lượng: 78,02422 gam; Ketamine có tổng khối lượng: 33,31013 gam.
Quá trình điều tra chứng minh được, vợ chồng bị cáo V và bị cáo V1 đăng ký giấy phép kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ ăn uống tại Cơ sở S thuộc Khóm E, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu từ năm 2016. Quá trình hoạt động, đã bị Ủy ban nhân dân thị xã G xử phạt hành chính 02 lần và bị tước giấy phép kinh doanh, về hành vi để cho người khác lợi dụng sử dụng chất ma túy trong khu vực mình quản lý. Để tiếp tục hoạt động, bị cáo V và bị cáo V1 nhờ Hứa Văn H đăng ký giấy phép kinh doanh và lợi dụng hoạt động kinh doanh nêu trên, bị cáo V và bị cáo V1 có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, đồng thời cung cấp dụng cụ sử dụng ma túy (đĩa sành, thẻ nhựa, ống hút, quẹt gas...) cho nhiều người sử dụng tại các phòng hát Karaoke của quán S1; loại ma túy gồm: thuốc lắc (thường gọi là kẹo), K2 (thường gọi là khay).
Nguồn ma túy mua của Nguyễn Phương Đ1 ở Thành Phố Hồ Chí Minh, sau khi nhận ma túy, bị cáo V1 sử dụng cân tiểu ly phân chia ma túy để bán cho người sử dụng. Khi khách đến hát Karaoke cần mua ma túy sử dụng thì trực tiếp liên hệ với bị cáo V và bị cáo V1 để mua hoặc thông qua nhân viên của quán Song N mang chất ma túy và dụng cụ sử dụng giao cho người sử dụng; một viên thuốc lắc (thường gọi là kẹo) số tiền 300.000đ đến 350.000đ; nửa hộp Katemine (thường gọi là khay) số tiền 3.000.000đ.
Tại Cơ sở karaoke S được bị cáo V và bị cáo V1 thiết kế nhiều lớp cửa: cửa cổng, lớp cửa cuốn và lớp cửa kính bên trong; các lối đi ra, vào đều có gắn camera giám sát; các phòng số 6, số G, số 8 có dàn âm thanh lớn; có chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy gồm: dĩa sành, ống hút, quẹt gas, thẻ nhựa....Khi có người cần sử dụng ma túy, bị cáo V và bị cáo V1 bố trí phòng và phân công nhân viên chuẩn bị sẵn trong các phòng Karaoke cho khách sử dụng ma túy (phòng bay). Tại thời điểm bị bắt (ngày 19 tháng 6 năm 2022), Cơ sở karaoke Song Ngân có 05 nhân viên làm việc, được trả tiền công mỗi tháng 4.000.000đ cho mỗi người và bao ăn uống. Vai trò của từng nhân viên, cụ thể như sau:
Trần Thanh Lưu nhiệm vụ làm bếp không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo V và bị cáo V1;
Bị cáo L, bị cáo A, bị cáo P1 và bị cáo T2 nhiệm vụ thay phiên nhau dọn dẹp, chuẩn bị phòng, dụng cụ sử dụng ma túy cho khách sử dụng theo sự phân công của bị cáo V và bị cáo V1; bị cáo T2 còn thêm nhiệm vụ canh cửa và trong giữ xe, đóng mở cửa.
* Tại Bản cáo trạng số 37/CT-VKS-P1 ngày 10 tháng 8 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với:
- Bị cáo Hứa Phong V và bị cáo Hồ Thị Bích V2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
- Bị cáo Nguyễn Trọng T3, bị cáo Đinh Vũ A, bị cáo Ngô Minh L1 và bị cáo Nguyễn Nhựt P2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
- Bị cáo Trần Kim C1 và bị cáo Lâm Duy K1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2023/HSST ngày 23 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu, quyết định:
Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255, Điều 17, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 52, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Đinh Vũ A phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Đinh Vũ A 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2023
Bản án sơ thẩm còn xử phạt đối với các bị cáo Hứa Phong V3, Hồ Thị Bích V2, Ngô Minh L1, Nguyễn Trọng T3, Nguyễn Nhựt P2, Trần Kim C1, bị cáo Lâm Duy K1 và quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
Ngày 29/11/2023 bị cáo Đinh Vũ A có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao phát biểu quan điểm như sau:
Bị cáo Đinh Vũ A được xác định phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức. Mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp.
Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không đưa ra tình tiết giảm nhẹ nào mới, vì vậy không có cơ sở chấp nhận.
Đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Sau khi xét xử sơ thẩm, nhóm các bị cáo bị xét xử về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” có 02 bị cáo gồm: bị cáo Lâm Duy K1 và bị cáo Đinh Vũ A kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Trước khi xét xử phúc thẩm, ngày 07/12/2023 bị cáo Lâm Duy K1 có đơn xin rút kháng cáo. Vì vậy, ngày 04/03/2023 Tòa án cấp phúc thẩm đã ban hành Quyết định số 05/2024/HSPT-QĐ về việc đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo này. Bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật đối với bị cáo Lâm Duy K1.
[2] Về nội dung kháng cáo của bị cáo Đinh Vũ A, xét thấy: Vào ngày bị bắt quả tang là ngày 19 tháng 6 năm 2022 tại Cơ sở kinh doanh của bị cáo V2 và bị cáo V3, có phòng số 06 và phòng số 08 sử dụng trái phép chất ma túy và có
các công cụ sử dụng ma túy. Trong đó, phòng số 8 là do bị cáo C1 liên hệ để bị cáo L1 chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy và bị cáo L1 cũng xác định trước khi chuẩn bị phòng và công cụ sử dụng ma túy thì đã hỏi ý kiến của bị cáo V2 và bị cáo V3.
Lời khai của bị cáo L1, bị cáo A, bị cáo T3, bị cáo P2 tại Cơ quan điều tra, họ đã nhiều lần chuẩn bị phòng và công cụ sử dụng ma túy cho khách đến đặt phòng theo sự điều hành của bị cáo V3 và bị cáo V2; lời trình bày của các bị cáo phù hợp với lời khai của nhiều người sử dụng trái phép chất ma túy tại Cơ sở kinh doanh của bị cáo V3 và bị cáo V2.
Đối với bị cáo L1, bị cáo A, bị cáo T3, bị cáo P2 là người làm thuê cho bị cáo V3 và bị cáo V2; thực hiện theo sự chỉ huy, phân công, điều hành của bị cáo V3 và bị cáo V2 trong việc việc chuẩn bị địa điểm, công cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy cho nhiều người và nhiều lần. Cho nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm với bị cáo V3 và bị cáo V2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Đối với hành vi này, các bị cáo bị cáo L1, bị cáo A, bị cáo P2 trực tại phòng khách và phục vụ khách sử dụng ma túy, sự phân công này sẽ được xoay vòng hoặc được thay đổi đều dưới sự điều hành và giám sát của bị cáo V3 và bị cáo V2. Vì vậy, bị cáo A và các bị cáo khác phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự về phạm tội có tổ chức theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm hại đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, việc mua bán và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy diễn ra trong thời gian dài đã đe dọa nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng nên cần xử lý nghiêm và áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với tất cả các bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và ngăn ngừa tội phạm.
Mức hình phạt 07 (bảy) năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với bị cáo Đinh Vũ A là phù hợp. Bị cáo kháng cáo nhưng không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ nào mới, vì vậy không có cơ sở để chấp nhận.
[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[4] Do kháng cáo không được chấp nhận, vì vậy bị cáo A phải chịu án phí phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Định Vũ A1; Giữ nguyên quyết định của bản án hình sự sơ thẩm số 35/2023/HSST ngày 23 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
Tuyên xử:
Tuyên bố:
Bị cáo Đinh Vũ A phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng các điểm a, b khoản 2 Điều 255; Điều 17, Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Đinh Vũ A 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2023.
Tiếp tục giam giữ bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Bị cáo A phải chịu án phí phúc thẩm 200.000 đồng.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Công Mười |
Bản án số 434/2024/HS-PT ngày 03/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 434/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bác kháng cáo
