Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 434/2025/DS-PT

Ngày: 19/06/2025

V/v: Kiện đòi tài sản

- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Chí Anh;

Các thẩm phán: Ông Vũ Viết Văn

Ông Lê Thanh Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thùy Trang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Lê Thị Hồng Hạnh – Kiểm sát viên.

Ngày 12,19 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 485/2020/TLPT-DS ngày 17 tháng 11 năm 2020 về việc: tranh chấp đòi tài sản.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 13/2020/DS-ST ngày 16 tháng 07 năm 2020 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 190/2022/QĐXXPT-DS ngày 15 tháng 04 năm 2021; các Quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm và các Thông báo mở lại phiên tòa phúc thẩm, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty TNHH MTV M (Hiện nay là Công ty cổ phần M)

Trụ sở: Số E - G H, phường H, quận H, Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Kim S - Giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Anh Bùi Hữu T, sinh năm 1995; Địa chỉ: Công ty L, tầng 25 tòa nhà ICON4, số nhà B Đê L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội (Theo Giấy uỷ quyền ngày 20/01/2022). Có mặt.

Bị đơn: Ông Ngô Huy N, sinh năm 1969; Địa chỉ: Số G, ngõ B đường C, phường Q, quận C, thành phố Hà Nội. Có mặt

Người kháng cáo: Bị đơn ông Ngô Huy N

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, đại diện của nguyên đơn trình bày:

Ông Nam nguyên là Phó giám đốc Công ty M – đơn vị hoạch toán phụ thuộc Tổng công ty M. Quá trình chuyển đổi Tổng công ty M và việc kế thừa quyền, nghĩa vụ của Công ty TNHH MTV M như sau:

  • Ngày 15/12/2009, Bộ N2 ban hành Quyết định số: 3576/QĐ-BNN-ĐMDN về việc sát nhập Tổng công ty Muối vào Tổng công ty L1
  • Ngày 21/12/2009, Tổng công ty L1 ban hành Quyết định số 261/QĐ-TCLLTMB-TCLĐ về việc thành lập các chi nhánh của Tổng công ty L1 tại TP Hà Nội, theo đó thành lập chi nhành Muối Việt Nam – Tổng công ty L1 và tổ chức lại các đơn vị của Tổng công ty M trước đây thành Chi nhành Muối Việt Nam trong đó gồm có Công ty M.
  • Ngày 06/4/2012, Tổng công ty L1 ban hàng quyết định số 101/QĐ-TCTLTMB-TCLĐ về việc phê duyệt phương án thành lập Công ty TNHH MTV M, theo đó chấm dứt hoạt động Chi nhánh M1 – Tổng công ty L1. Quyết định thành lập lập Công ty TNHH MTV M kế thừa toàn bộ quyền, nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp và xử lý các vấn đề phát sinh và tồn tại của Chi nhánh M1 – Tổng công ty L1.

Trong thời gian công tác, trên cương vị là Phó tổng giám đốc – ông N có thực hiện việc tạm ứng tiền cá nhân.

Ngày 09/6/2009, Đoàn thành tra Bộ N2 làm việc với ông N theo quyết định số 726/QĐ-BNN-TTr ngày 10/4/2009 để làm rõ các vấn đề nợ phải thu theo đề cương thanh tra. Theo đó, tại biên bản làm việc có nội dung ông N xác nhận: “Tổng số nợ tạm ứng gồm: 881.585.650 đồng, gồm:

  • Trên biên bản đối chiếu công nợ ngày 11/4/2007: 499.572.100đồng; trên sổ chi tiết kế toán ngày 31/12/2008: 464.340.105 đồng
  • Ngày 14/12/2005, tạm ứng 5.000.000đồng – ông T1 đưa
  • Ngày 21/12005, tạm ứng 200.000.000 đồng – ông T1 đưa
  • Ngày 21/12/2005, tạm ứng 15.000.000đồng – ông T1 đưa
  • Nhận 10.000.000 đồng từ ông T1
  • Nhận trực tiếp từ bà B thủ quỹ: 197.245.500đồng

“Tôi xác nhận số nợ tạm tính 881.585.650 đồnglà có phát sinh thật và cá nhân tôi chịu trách nhiệm với số tiền tạm ứng này.

Sau khi lập Biên bản làm việc với đoàn Thanh tra nêu trên, tính đến hết ngày 15/8/2012, ông N đã hoàn trả được cho Công ty TNHH MTV M làm nhiều lần với tổng số tiền là 162.589.895 đồng. Cụ thể như sau:

  • Số tiền 30.000.045 đồng do ông N trả trước lúc Tổng công ty M sáp nhập và Tổng công ty L1 nên không còn lưu chứng từ chuyển tiền.
  • Ngày 15/12/2009 trả 50.000.000đồng;
  • Ngày 2/12/2010 trả 22.589.850 đồng;
  • Ngày 28/01/2011 trả 30.000.000đồng;
  • Ngày 13/5/2011 trả 15.000.000đồng;
  • Ngày 29/12/2011 trả 10.000.000đồng;
  • Ngày 15/08/2012 trả 5.000.000đồng.

Như vậy, số tiền nợ gốc ông N còn phải hoàn trả cho Công ty TNHH MTV M là: 881.585.650 đồng - 162.589.895 đồng = 718.995.755 đồng.

Công ty TNHH MTV M đã nhiều lần thúc giục ông N thanh toán hết toàn bộ số nợ cho công ty vì đã nợ quá lâu. Ông N cố tình chây ỳ, không chịu thanh toán, gây ảnh hưởng lớn để tiến trình tiến hành cổ phần hóa của Công ty TNHH MTV M.

Đảm bảo quyền và lợi ích của Công ty TNHH MTV M, đề nghị Tòa án buộc ông Ngô Huy N phải trả cho Công ty số tiền 718.995.755 đồng.

Hiện nay, theo Quyết định số 318/QĐ-TCTLTMB-HĐTV ngày 20/11/2020 của Tổng Công ty L1 về phê duyệt phương án cổ phần hoá Công ty TNHH MTV M đã quyết định cổ phần hoá Công ty TNHH MTV M và chuyển thành Công ty cổ phần M. Trong quá trình xét xử phúc thẩm, đại diện theo uỷ quyền có ý kiến đối với đơn kháng cáo của bị đơn như sau:

1. Đối với nội dung kháng cáo “Toà án cấp sơ thẩm triệu tập thiếu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vi phạm nghiêm trọng tố tụng”; yêu cầu của Viện kiểm sát “Lấy lời khai ông V, bà B, ông T1 để làm rõ các khoản tiền mà ông N đã có báo cáo giải trình với Thanh tra Bộ ngày 09/6/2009”.

Bị đơn nêu trong kháng cáo Tòa án sơ thẩm không triệu tập ông K1 - nguyên giám đốc Công ty M, bà B - nguyên thủ quỹ, bà N1 - nguyên kế toán trưởng, ông C - nguyên Tổng giám đốc Tổng Công ty M là thiếu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Theo quy định tại khoản 4 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự: "4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khỏi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sư có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa ản chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.". Rõ ràng, Công ty TNHH MTV M khởi kiện ông N hoàn trả số tiền tạm ứng không liên quan đến bất cứ quyền lợi, nghĩa vụ nào của các ông/bà giữ chức vụ nêu trên nên, bởi những người này không phải là người tạm ứng tiền, vì không tạm ứng tiền nên không thể buộc họ liên đới/liên quan đến việc hoàn trả tiền tạm ứng.

Ngoài ra, Tòa án sơ thẩm cũng đã yêu cầu Bị đơn cung cấp thông tin về địa chỉ của những người trên khi Bị đơn đề nghị nhưng Bị đơn không cung cấp được thì đương nhiên phải chịu hậu quả pháp lý về việc không cung cấp được thông tin, tài liệu đó. Điều đó thể hiện nguyên tắc bình đẳng về quyền, nghĩa vụ trong tố tụng dân sự theo quy định tại Điều 8 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại Biên bản làm việc ngày 09/06/2009, phía Bị đơn chưa có giải trình với đoàn Thanh tra Bộ N2 mà mới chỉ trình bày, nêu ý kiến. Ông Lại Quốc K - Trưởng đoàn thanh tra đã yêu cầu Bị đơn có Bản giải trình và các chứng lý kèm theo trước ngày 12/06/2009 để chứng minh cho nội dung Bị đơn trình bày là đúng. Tuy nhiên, Bị đơn đã không giải trình, cung cấp được chứng từ theo yêu cầu trên.

2. Đối với nội dung kháng cáo “Kết luận thanh tra có nội dung mâu thuẫn, không rõ ràng”

Bị đơn không chỉ được ra bất cứ điểm mâu thuẫn, không rõ ràng nào trong Kết luận thanh tra, ngược lại Kết luận thanh tra đã nêu rất rõ nét nội dung: “Ông Ngô Huy N - Nguyên phó Giám đốc chịu trách nhiệm về những khoản công nợ phải thu, phải trả tồn tại phát sinh từ năm 2002 đến năm 2007 (trong đó cá nhân ông N tạm ứng 851.585.605 đồng)”- “Ông Ngô Huy N - nguyên phó Giám đốc phải hoàn trả số tiền tạm ứng 851.585.605 đồng”. Nội dung về số tiền tạm ứng của ông N được nhắc lại nhiều lần tại Kết luận thanh tra, là minh chứng rõ nét không thể phủ nhận.

Theo nguyên tắc chứng minh tại khoản 2 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự, đương sự phản đối yêu cầu của người khác phải cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó, tuy nhiên phía Bị đơn không cung cấp được bất cứ tài liệu nào.

Ngoài ra, Bị đơn cũng đã thừa nhận tại Bản tự khai và tại Biên bản hòa giải, tiếp cận công khai chứng cứ rằng sau khi nhận được Kết luận thanh tra đã trả được một phần tiền cho Công ty M. Bị đơn không thực hiện khiếu nại hay có ý kiến thắc mắc gì về Kết luận thanh tra. Vì vậy, Kết luận thanh tra là chứng cứ có giá trị chứng minh số tiền Bị đơn đã tạm ứng. Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, do Bị đơn đã thừa nhận nên Công ty M không cần phải chứng minh.

Kết luận thanh tra được Văn phòng Bộ N2 thông cung cấp, xác nhận sao y, vì vậy theo quy định tại khoản 1 Điều 95 Bộ luật tố tụng dân sự tài liệu này được xác định là chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

3. Đối với nội dung kháng cáo “Phiếu thu đề ngày 15/12/2009 có trong hồ sơ vụ án có dấu hiệu nguỵ taọ, giả mạo”.

Tài liệu này được trích từ sổ chi tiết tài khoản kế toán của Công ty M (TK 1368) sau đó in ra từ hệ thống dữ liệu lưu trữ, tài liệu này mới được in trong quá trình chuẩn bị sơ để khởi kiện Bị đơn, không phải tồn tại từ ngày 15/12/2009. Vì là bản in nên Công ty Muối sử dụng con dấu để xác nhận, chịu trách nhiệm về tính chính xác, khách quan. Thiết nghĩ đây là tài liệu về bản chất “có lợi” cho Bị đơn, bởi tài liệu này chứng minh số tiền Bị đơn đã hoàn trả cho Công ty M, do đó Bị đơn phản đối tài liệu này có do chưa hiểu đúng đắn nên có lập luận, ý kiến không chuẩn xác.

4. Đối với nội dung kháng cáo “Không có căn cứ để xác định Công ty TNHH MTV M hiện nay có tư cách thực hiện và kế thừa các quyền và nghĩa vụ của Công ty M – Tổng công ty M”; Yêu cầu thu thập chứng cứ về việc Tổng Công ty L1 uỷ quyền cho Công ty TNHH MTV M được thực hiện quyền thu hồi công nợ đối với ông Ngô Huy N”, “Thu thập tài liệu, chứng cứ về voeekc sau khi được thành lập, khoản nợ của ông N tiếp tục được chuyển giao cho Công ty M kế thừa”.

Trong hồ sơ vụ án đã thể hiện rất rõ quá trình kế thừa quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của Công ty M thông qua những tài liệu sau:

  • Ngày 15/12/2009, Bộ N2 ban hành Quyết định số: 3576/QĐ-BNN-ĐMDN về việc sáp nhập Tổng Công ty Muối vào Tổng Công ty L1. Sau khi sáp nhập, Tổng Công ty M chấm dứt tồn tại, mọi quyền lợi, nghĩa vụ (tài sản, lao động, công nợ ...) được chuyển giao vào Tổng Công ty L1.
  • Ngày 21/12/2009, Tổng Công ty L1 ban hành Quyết định số: 261/QĐ-TCLLTMB-TCLĐ về việc thành lập các chi nhánh của Tổng Công ty L1 tại Hà Nội, trong đó thành lập Chi nhánh M1 – Tổng Công ty L1 trên cơ sở tổ chức lại (theo hình thức sáp nhập) đơn vị Văn phòng và một số công ty hạch toán phụ thuộc trước đây của Tổng Công ty M (Bao gồm: Cơ quan văn phòng Tổng Công ty M; Công ty X; Công ty M).
  • Ngày 06/04/2012, Tổng Công ty L1 ban hành Quyết định số: 101/QĐ-TCTLTMB-TCLĐ về việc phê duyệt Phương án thành lập Công ty TNHH MTV M, theo đó chấm dứt hoạt động của Chi nhánh M1 - Tổng Công ty L1. Quyết định thành lập Công ty TNHH MTV M kế thừa toàn bộ quyền, nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp và xử lý các vấn đề còn tồn tại và phát sinh của Chi nhánh M1 - Tổng Công ty L1 (Cơ cấu theo hình thức tách doanh nghiệp). Tại khoản 8 Điều 1 Quyết định 101 nêu: “Sau khi chuyển đổi thành Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, Công ty TNHH một thành viên M kế thừa các quyền, nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp và xử lý các vấn đề tồn tại và phát sinh của Chi nhánh M1 - Tổng công ty L1 theo ủy quyền của Tổng Công ty”. Điều trên không được hiểu theo nghĩa là Tổng Công ty L1 ủy quyền cho Công ty M kế thừa các quyền, nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp và xử lý các vấn đề tồn tại và phát sinh của Chi nhánh M1 - Tổng công ty L1, trong đó có việc ủy quyền thu hồi nợ với Bị đơn. Hiểu như vậy là hoàn toàn sai, phi pháp lý. Bởi:
  1. Tổng Công ty L1 không ủy quyền cho Công ty M thu công nợ đối với Bị đơn. Câu trên phải được hiểu rằng: Công ty M kế thừa các quyền nghĩa vụ lơi ích hợp pháp của Chi nhánh M1 - Tổng Công ty M kế thừa các quyền, nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp của Chi nhánh M1 - Tổng công ty L1 đã tồn tại, phát sinh trong quá trình Chi nhánh Muối Việt Nam - Tổng công ty L1 kinh doanh, hoạt động theo sự ủy quyền của Tổng công ty L1. Bởi lẽ theo quy định pháp luật thì chi nhánh không có tư cách pháp nhân, chi nhánh thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của doanh nghiệp thông qua cơ chế ủy quyền, phân cấp. Từ “Ủy quyền” ở đây phải được hiểu theo nguyên nghĩa tại Điều 37 Luật doanh nghiệp 2005.
  2. Về pháp lý, Tổng Công ty L1 cũng không thể ủy quyền cho Công ty M về “nghĩa vụ”. Đơn cử ví dụ Tổng Công ty L1 có nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng, về pháp lý không thể tự ý ủy quyền cho Công ty M chịu thay nghĩa vụ nợ này.

Tóm lại, việc kế thừa quyền, nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp và xử lý các vấn đề còn tồn tại, phát sinh từ Chi nhánh Muối Việt Nam của Công ty M hiện nay, bao gồm quyền lược khởi kiện đòi lại tài sản từ Bị đơn được căn cứ theo luật định tại các Điều 37, 151, 53 Luật đoanh nghiệp 2005.

Trên thực tế Công ty M đã thực hiện quyền khởi kiện nhiều vụ án do kế thừa quyền, nghĩa vụ, trong đó phải kể đến việc khởi kiện ông Trần Ngọc K1 - Nguyên giám đốc Công ty M (Người cũng có tên cùng với Bị đơn trong Biên bản làm việc ngày 09/06/2009 của đoàn Thanh tra Bộ N2) tại TAND quận Đồng Đa, thành phố Hà Nội. Vụ án cũng liên quan đến kiện đòi số tiền tạm ứng, do trong quá trình hòa giải ông Trần Ngọc K1 tự nguyện trả tiền nên phía Công ty M rút yêu cầu khởi kiện, Tòa án đình chi giải quyết kết thúc vụ án (Gửi kèm thông báo thụ lý và Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án).

5. Yêu cầu “Xác minh tại phòng tín dụng Ngân hàng Đ2 – chi nhánh Bà T2 có việc ông N đã trả tiền ngoại tệ cho Công ty hay không?”

Theo lời trình bày tại Biên bản làm việc ngày 09/06/2009 của Bị đơn liên quan đến số tiền: 48.791.000 đồng là để trả tiền mua ngoại tại phòng tín dụng ngân hàng Đ2 - Chi nhánh Bà T2. Số tiền này không liên quan đến yêu cầu khởi kiện của Công ty M. Vì vậy, việc xác minh, làm rõ là không cần thiết, không ảnh hưởng đến nội dung giải quyết vụ án.

Nói chung nội dung kháng cáo của Bị đơn về cơ bản không có gì mới so với những gì đã nêu và được làm rõ ngay tại giai đoạn sơ thẩm. Nếu Bị đơn không đưa ra được tài liệu, chứng cứ mới làm thay đổi bản chất của vụ án, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm bác kháng cáo, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm.

Trong quá trình tố tụng, bị đơn - ông Ngô Huy N đều trình bày:

Theo đơn khởi kiện của Công ty TNHH MTV M, kết quả giải quyết tại Bản án sơ thẩm, ông N đề nghị Tòa án phúc thẩm xem xét, làm rõ các vấn đề sau đây:

1. Trong Biên bản làm việc với thanh tra, các bên đã thống nhất các khoản đang treo nợ tạm ứng có liên quan tới việc ông N ký, bao gồm:

  • Khoản nợ 464.340.105 đồng, đây là khoản tiền do Công ty M tổng hợp thanh toán cho nhà cung cấp lô hàng mỹ phẩm nhập phi mậu dịch. Việc quyết định kinh doanh mặt hàng này là của tập thể lãnh đạo công ty, hơn nữa bản thân ông N không trực tiếp nhận tiền mà chỉ ký trên phiếu tạm ứng. Tiền được trả bằng tiền mặt trực tiếp cho đơn vị cấp hàng. Việc này có thể xác minh lại với bộ phận kế toán trước kia của công ty, ông N đã làm việc với Đoàn thanh tra và đã báo cáo trực tiếp với ông Trần Xuân C, nguyên Tổng công ty.
  • Khoản nợ 187.245.000 đồng, ông N đã giải trình với Đoàn thanh tra bao gồm tạm ứng của ông V (nguyên kế toán trưởng, lúc đó đã chuyển công tác) là 70.000.000 đồng và khoản tiền 117.245.000 đồng đã có chứng từ hợp lệ nộp công ty, chưa hoạch toán. Việc này bà N1 - nguyên kế toán trưởng và bà B - nguyên thủ quỹ có thể xác nhận.
  • Các khoản tiền 5.000.000 đồng ngày 14/12/2005, 15.000.000 đồng ngày 26/12/2015 và khoản 10.000.000 đồng ông N đã giải trình với đoàn thanh tra và các chứng từ đã được hạch toán.
  • Khoản phí mua ngoại tệ 48.197.000 đồng là phí mua ngoại tệ của Công ty không có chứng từ, kế toán của Công ty cũng đã giải trình với thanh tra. Đây là hoạt động bình thường của tất cả các doanh nghiệp, vậy tại sao ông N lại phải hoàn trả số tiền này.

Ông N đã đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm yêu cầu bên phía nguyên đơn trình với Toà án các chứng từ, sổ sách kế toán thời điểm đó để có cơ sở làm sáng tỏ các khoản tạm ứng, các chứng từ đã có, đã hạch toán và đặc biệt là chứng từ thu chi và giá trị hàng hoá tồn kho của lô hàng giá trị 464.340.105 VNĐ tuy nhiên đề nghị của ông N không được Toà án cấp sơ thẩm xem xét.

2. Sau khi làm việc với Đoàn thanh tra, cá nhân ông N cũng đã báo cáo toàn bộ sự việc với lãnh đạo Tổng công ty và nộp khoảng 200.000.000đồng cho công ty là số tiền cá nhân ông N đã sử dụng cho hoạt động của công ty thời điểm đó nhưng không có chứng từ hợp lệ. Tuy nhiên thời điểm này con số chính xác ông N không nhớ, vì đã quá lâu (10 năm). Số tiền này đã được nộp cho hai pháp nhân là Công ty M (nay là Công ty TNHH MTV M). Việc nguyên đơn không trình với Tòa sổ sách kế toán và chứng từ thu chi thể hiện việc đã chi những khoản nào để làm gì và đã thu các khoản từ tiền bán hàng, từ tiền cá nhân của ông N một cách rõ ràng chi tiết là việc cắt xén hồ sơ, không phản ánh đúng bản chất của sự việc, vì vậy không thể có cơ sở pháp lý để yêu cầu ông N chịu trách nhiệm cho công việc của tập thể (đã được hưởng lợi) bằng tiền cá nhân.

3. Việc xét xử và tuyên bản án dân sự sơ thẩm ngày 16/7/2020 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội có vi phạm pháp luật tố tụng dân sự, cụ thể: Tòa án đã không triệu tập và đưa vào tham gia tố tụng những người là nhân chứng và những người có quyền và nghĩa vụ liên quan trong vụ án, như ông Trần Ngọc K1 - nguyên là giám đốc Công ty M - Tổng Công ty muối; bà B-nguyên thủ quỹ công ty M - Tổng Công ty muối (điện thoại: 0799.050.xxx), bà N1 - nguyên Kế Toán trưởng công ty M - Tổng Công ty M (điện thoại: 0901.269.xxx), Ông Trần Xuân C - nguyên TGĐ Tổng Công ty M (Điện thoại: 0903.431.xxx) mặc dù đã được ông N đề nghị Tòa án triệu tập và đưa vào tham gia tố tụng nhiều lần, là vi phạm điều 68, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Việc không triệu tập các công dân này dẫn đến không làm sang tỏ được bản chất của vụ việc, dẫn đến việc giải quyết vụ án bị lệch lạc, sai lầm nghiêm trọng.

4. Bản án dân sự sơ thầm của tòa án nhân nhân dân quận Cầu giấy, thành phố Hà nội ngày 16/7/2020 (bị ông N kháng cáo) có nội dung chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Nguyên đơn khi nêu căn cứ dựa vào kết luận thanh tra có nội dung mâu thuẫn, không rõ ràng số 4687/KL-BNN-TTr ngày 20/8/2009 của Thanh tra bộ N2, trong khi nguyên đơn không đưa ra được bất kỳ một hóa đơn, phiếu chi tiền nào thể hiện ông N là người đã kí vào các giấy tờ này này liên quan đến việc chi tiền của Công ty M - Tổng Công ty muối phục vụ vào mục đích gì. Trong khi thực tế các chứng từ gốc thể hiện rất rõ lý do chi tiền, chi vào việc gì và ai là người phải chịu trách nhiệm. Bản án bác bỏ toàn bộ những dẫn chứng bảo vệ quyền lợi hợp pháp của tôi là không khách quan trong khi có dấu hiệu Nguyên đơn ngụy tạo chứng cứ, giả mạo giấy tờ, cụ thể: Trong hồ sơ có tài liệu do nguyên đơn cung cấp cho Tòa án có Phiếu thu đề ngày 15/12/2009 của Công ty TNHH một thành viên M (Bút lục số 16 trong hồ sơ vụ án), nhưng thực tế thời điểm này Công ty TNHH MTV M chưa được thành lập.

5. Hiện nay, lãnh đạo của Công ty TNHH MTV M là những người mới về công tác tại công ty và không hiểu rõ được sự việc nên Công ty TNHH MTV M yêu cầu tôi phải trả số tiền 718.995.755 VNĐ là không hợp lý.

6. Đặc biệt là, chưa có đủ cơ sở để xác định Công ty TNHH một thành viên M (nguyên đơn trong vụ án này) có tư cách thực hiện và kế thừa các quyền và nghĩa vụ của công ty M, trực thuộc Tổng Công ty muối không? - Có tư cách khởi kiện không? Bởi lẽ: Theo quyết định số: 101/QĐ-TCTLTMB-TCLĐ, của Hội đồng thành viên Tổng Công ty L1, Công ty TNHH một thành viên M kế thừa các quyền và nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp và xử lý những vấn đề tồn tại và phát sinh của Chi nhánh muối Việt Nam - Tổng công ty L1 theo ủy quyền của Tổng Giám đốc công ty. Trong khi Công ty M là đơn vị trực thuộc Tổng công ty muối. Các nội dung vụ việc cụ thể là tồn tại của Công ty M (như đã trình bày ở trên), vậy dựa vào cơ sở pháp lý nào để cho rằng công ty TNHH một thành viên M có quyền giải quyết những tồn đọng không có tài liệu rõ ràng của Công ty M tổng hợp.

7. Nội dung đơn khởi kiện của nguyên đơn trích dẫn không đúng nội biên bản làm việc của Đoàn Thanh tra ngày 09/6/2009. Đơn khởi kiện khẳng định ông N là người phải chịu trách nhiệm, nhưng nội dung biên bản làm việc không phải như vậy.

Bản án dân sự sơ thẩm số: 13/2020/DS-ST ngày 16/7/2020 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy đã quyết định: Căn cứ: Điều 255; Điều 256; Điều 599; Điều 600 của Bộ luật Dân sự năm 2005.

Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 97, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV M đối với ông Ngô Huy N về kiện đòi tài sản.

2. Buộc ông Ngô Huy N phải thanh toán trả cho Công ty TNHH MTV M số tiền là 718.995.755 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng và thông báo quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 31/7/2020, bị đơn ông Ngô Huy N kháng cáo toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm, không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Đại diện ủy quyền của nguyên đơn: giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và các ý kiến đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • Bị đơn: giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và cung cấp thêm một số tài liệu, chứng cứ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

  • Về tố tụng: Về việc chấp hành pháp luật tố tụng dân sự của thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của BLTTDS: Đảm bảo đúng thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm theo đúng quy định tại Điều 286 BLTTDS; Việc thu thập, giao nộp và công khai chứng cứ theo đúng quy định của BLTTDS; Việc bàn giao, thông báo các quyết định, văn bản tố tụng, hồ sơ của Tòa án theo đúng quy định của BLTTDS; Thành phần Hội đồng xét xử theo đúng quy định của BLTTDS và đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các đương sự theo quy định của pháp luật.
  • Về nội dung: Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án nhận thấy Bản án sơ thẩm của Tòa án vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng như sau:
    • Về tư cách khởi kiện của nguyên đơn: Tại Quyết định số 101 ngày 6/4/2012 của Tổng công ty L1 về việc phê duyệt Phương án thành lập Công ty TNHH MTV M mục 8 thể hiện như sau:“Sau khi chuyển đổi thành Công ty TNHH một thành viên, Công ty TNHH một thành viên M kế thừa các quyền, nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp và xử lý những vấn đề tồn tại và phát sinh của chi nhánh M1 - Tổng công ty L1 theo ủy quyền của Tổng Công ty”. (BL17)

Như vậy, Công ty TNHH một thành viên M đòi ông N số tiền theo biên bản của Thanh tra Bộ. Tuy nhiên, trong hồ sơ không có tài liệu nào thể hiện là Tổng công ty L1 đã ủy quyền cho Công ty Muối đòi số tiền trên. Nguyên đơn cũng không cung cấp được các tài liệu nào thể hiện sau khi Công ty TNHH một thành viên M thành lập thì khoản nợ của ông N được chuyển giao cho Công ty. Do đó, việc TNHH M gửi đơn khởi kiện buộc ông N phải trả tiền cho Công ty là chưa có căn cứ vững chắc.

  • Về thu thập chứng cứ: Tài liệu có trong hồ sơ thể hiện ngày 9/6/2009 Thanh tra Bộ đã có biên bản làm việc với ông Trần Ngọc K1 và ông Ngô Huy N, tại buổi làm việc ông N đã báo cảo giải trình về số tiền 881.585.650 đồng mà ông N đã tạm ứng tiền của Công ty như sau (Bút lục 112):
    • Khoản nợ 464.340 đồng trong đó khoảng 225 triệu đồng là số tiền đã nhập lô hàng mỹ phẩm từ Đ về theo hình thức phi mậu dịch nên hiện chưa có chứng từ thanh toán.
    • Khoản nợ 187.245.500 đồng trong đó có 70.000.000đồng là do ông V tạm ứng ông chỉ là người ký xác nhận. Số tiền 117.245.500 đồng ông đã hoàn tạm ứng cho bà B.
    • Khoản tiền 200.000.000 đồng ông sẽ chịu trách nhiệm hoàn trả cho Công ty.
    • Khoản nợ 5.000.000 đồng; 15.000.000 đồng và 10.000.000 đồng ông đã hoàn chứng từ đưa cho ông T1.

Ngoài ra có khoản 48.791.000 đồng để trả công nợ tiền mua ngoại tệ phòng Tín dụng ngân hàng Đ3 chi nhánh B1.đây là chi phí bình thường của Công ty, chị N1 sẽ giải trình và cung cấp chứng từ cho Đ1 Thanh tra.

Với giải trình tại biên bản làm việc như trên; ngày 20/8/2009 Thanh tra Bộ đã có Bản Kết luận số 4687/KL-BNN-TTr yêu cầu ông K1, ông N phải phổi hợp với ông Phạm Văn D – Giám đốc Công ty để giải quyết dứt điểm các khoản nợ tạm ứng còn tồn đọng trước ngày 30/11/2009.

Như vậy, số tiền mà ông N tạm ứng của Tổng công ty M trong thời gian ông N còn là phó giám đốc là có thật. Ông N khai ông N đã nộp tiền vào Công ty 200.000.000đồng nhưng ông không còn lưu giữ tài liệu. Thời điểm ông nộp tiền có 2 đơn vị cùng thu lại tạm ứng của cán bộ cũ là Công ty M và Tổng Công ty M (nay là Công ty TNHH MTV M).

Trong trường hợp này lẽ ra Tòa án cấp sơ thẩm cần xác minh làm rõ Công ty M Tổng hợp đã thu khoản tiền nào của ông N và Tổng Công ty M (nay là Công ty TNHH MTV M) đã thu khoản tiền nào của ông N để làm rõ số tiền mà ông N còn nợ mới đúng; chưa xác minh làm rõ khoản tiền mà ông N tạm ứng đã được Thanh tra Bộ N3 và PT Nông thôn xử lý như thế nào? Vì theo Quyết định của Thứ trưởng Bộ N3 và PTNT thì cá nhân còn nợ phải báo cáo giải trình trước ngày 30/11/2009.

Ngoài ra, tài liệu có trong hồ sơ cho thấy ngày 27/4/2012, Công ty TNHH MTV M được Sở K2 cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (Bút Lục 20) nhưng Phiếu thu tiền 50.000.000 đ lại thể hiện thu tiền vào ngày 15/12/2009 (Bút lục 16). Như vậy, tài liệu chứng cứ này là không hợp pháp bởi năm 2012 công ty mới thành lập và mới có dấu pháp nhân nhưng phiếu thu tiền lại ký và đóng dấu vào năm 2009. Ngoài ra, tại Sổ chi tiết tài khoản 138 tạm ứng cho ông Ngô Huy N của Tổng Công ty M thể hiện đến ngày 17/7/2010 ông N còn nợ 801.585.605 đồng.

Như vậy, phiếu thu tiền không có chữ ký của người nộp, sổ chi tiết tài khoản không ghi rõ họ tên của Kế toán trưởng và người lập sổ là ai? Các lần nộp tiền vào tài khoản là do ai nộp. Những mâu thuẫn này chưa được xác minh làm rõ nhưng Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông N đã nộp cho Công ty với tổng số tiền là 162.589.895 đồng là chưa chính xác.

Từ những phân tích trên đề nghị HĐXX: Áp dụng khoản 3 Điều 308 BLTTDS 2015: Chấp nhận kháng cáo của bị đơn hủy án sơ thẩm số 13/2020/DSST ngày 16/07/2020, Toà án nhân dân quận Cầu Giấy theo như phân tích ở trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa và người tham gia tố tụng về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định như sau:

[1]. Về thời hạn kháng cáo:

Ngày 31/7/2020, bị đơn ông Ngô Huy N nộp đơn kháng cáo, như vậy đơn kháng cáo của ông Ngô Huy N đã nộp trong thời hạn luật định, ông N đã nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[2]. Về thủ tục tố tụng:

  • Về quan hệ pháp luật: Công ty TNHH MTV M khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Ngô Huy N trả cho Công ty cho số tiền 718.995.755 đồng. Theo Công ty TNHH MTV M xác định số tiền 718.995.755 đồng là tài sản của công ty, ông Ngô Huy N đã tạm ứng từ Công ty nhưng chưa hoàn trả. HĐXX xét thấy: Công ty TNHH MTV M thực hiện kiện quyền đòi lại tài sản của mình khi cho rằng ông Ngô Huy N đang chiếm dụng không có căn cứ pháp luật; căn cứ Điều 166 Bộ luật dân sự 2015, khoản 2 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Toà án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp được giải quyết trong vụ án là tranh chấp về kiện đòi tài sản trong dân sự là có cơ sở; không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ông Ngô Huy N cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đang vi phạm trong áp dụng pháp luật nhằm tránh thời hiệu khởi kiện.
  • Về thời hiệu khởi kiện: Trong quá trình tố tụng ở cấp sơ thẩm, Công ty TNHH MTV M và ông Ngô Huy N đều không yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện, căn cứ Điều 184 Bộ luật tố tụng dân, Toà án cấp sơ thẩm không áp dụng thời hiệu để xem xét giải quyết vụ án. Đồng thời, quan hệ tranh chấp được giải quyết trong vụ án là tranh chấp về kiện đòi tài sản trong dân sự, căn cứ khoản 2 Điều 155 Bộ luật dân sự 2015, không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với vụ án tranh chấp này.
  • Người tham gia tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng ông N đề nghị Tòa án triệu tập người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà N1 - nguyên kế toán trưởng Công ty M; ông K1 – nguyên là giám đốc Công ty M, bà B – thủ quỹ Công ty M và ông C – nguyên Tổng giám đốc Công ty M. Tại Toà án cấp sơ thẩm ông N đề nghị Toà án liên hệ bằng điện thoại vì những người này đã về hưu và ông N hiện nay cũng không cung cấp được địa chỉ cụ thể. Tại Toà án cấp phúc thẩm, ông N có cung cấp điện thoại của những người này nhưng theo quy định của pháp luật, ông N phải có nghĩa vụ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích của mình theo quy định tại Điều 91 BLTTDS; ông N phải cung cấp địa chỉ cụ thể hoặc có tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình liên quan những đề nghị của ông N. Sau đó, ông N có nộp cho Toà án cấp phúc thẩm giấy xác nhận của ông ông C – nguyên Tổng giám đốc Công ty M; ông K1 – nguyên là giám đốc Công ty M và bà B – thủ quỹ Công ty M với nội dung xác nhận thời điểm năm 2007 Công ty M có nhập lô hàng mỹ phẩm của Đ. Do vậy việc ông N đề nghị triệu tập là không cần thiết; do đó Toà án không tiến hành triệu tập các cá nhân theo yêu cầu của ông Ngô Huy N.

[3]. Xét kháng cáo của bị đơn ông Ngô Huy N:

[3.1] Về tư cách khởi kiện của nguyên đơn:

Ông Ngô Huy N - nguyên là Phó giám đốc Công ty M – đơn vị hoạch toán phụ thuộc Tổng công ty M. Quá trình chuyển đổi Tổng công ty M và việc kế thừa quyền, nghĩa vụ của Công ty TNHH MTV M như sau:

  • Ngày 15/12/2009, Bộ N2 ban hành Quyết định số: 3576/QĐ-BNN-ĐMDN về việc sát nhập Tổng công ty Muối vào Tổng công ty L1 (Bút lục 98). Theo đó, sáp nhập nguyên trạng Tổng công ty M vào Tổng công ty L1. Mọi quyền lợi, nghĩa vụ của Tổng công Muối do Tổng công ty L1 kế thừa.
  • Trên cơ sở đó, ngày 21/12/2009 Tổng công ty L1 ban hành Quyết định số 261/QĐ-TCLLTMB-TCLĐ về việc thành lập các chi nhánh của Tổng công ty L1 tại thành phố Hà Nội, theo đó thành lập chi nhành Muối Việt Nam – Tổng công ty L1 và tổ chức lại các đơn vị của Tổng công ty M trước đây thành Chi nhành Muối Việt Nam trong đó gồm có Công ty M – đơn vị do ông Ngô Huy N nguyên là Phó gíam đốc (Bút lục 99). Như vậy, các đơn vị trước đây của Tổng công ty M (bao gồm Công ty M – đơn vị do ông Ngô Huy N nguyên là Phó gíam đốc) được tổ chức lại thành chi nhánh M1 trực thuộc Tổng công ty lương thực miền B.
  • Ngày 06/4/2012, Tổng công ty L1 ban hành quyết định số 101/QĐ-TCTLTMB-TCLĐ về việc phê duyệt phương án thành lập Công ty TNHH MTV M, theo đó chấm dứt hoạt động Chi nhánh M1 – Tổng công ty L1. Quyết định thành lập lập Công ty TNHH MTV M kế thừa toàn bộ quyền, nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp và xử lý các vấn đề phát sinh và tồn tại của Chi nhánh M1 – Tổng công ty L1 (Bút lục 18). Sau đó, Công ty TNHH MTV M được cấp giấy chứng nhận đăng ký thành lập doanh nghiệp (Bút lục số 20). Tại theo khoản 8 Điều 1 tại quyết định số 101/QĐ-TCTLTMB-TCLĐ ngày 06/4/2012, “Sau khi chuyển đổi thành Công ty TNHH MTM, Công ty TNHH M kế thừa các quyền, nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp và xử lý những vấn đề phát sinh của Chi nhánh M1 – Tổng công ty L1 theo uỷ quyền của Tổng công ty” Mặc dù trong hồ sơ không có tài liệu nào thể hiện là Tổng công ty L1 đã ủy quyền cho Công ty M đòi số tiền trên và nguyên đơn cũng không cung cấp được các tài liệu nào thể hiện sau khi Công ty TNHH một thành viên M thành lập thì khoản nợ của ông N được chuyển giao cho Công ty nhưng HĐXX xét thấy: trong hồ sơ đã có các tài liệu về quá trình chuyển đổi, cơ cấu lại từ giai đoạn là Tổng công ty M cho đến khi Công ty TNHH MTV M được thành lập; đồng thời theo quy định tại Điều 154 Luật doanh nghiệp năm 2005, “Sau khi đăng ký kinh doanh, công ty được chuyển đổi chấm dứt tồn tại; công ty chuyển đổi được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ tài sản khác của công ty được chuyển đổi”; Do đó, Công ty TNHH MTV M có đủ căn cứ là chủ thể được quyền gửi đơn khởi kiện buộc ông Ngô Huy N phải trả tiền cho Công ty.

Hiện nay, theo Quyết định số 318/QĐ-TCTLTMB-HĐTV ngày 20/11/2020 của Tổng Công ty L1 về phê duyệt phương án cổ phần hoá Công ty TNHH MTV M đã quyết định cổ phần hoá Công ty TNHH MTV M và chuyển thành Công ty cổ phần M. Công ty cổ phần M tiếp tục kế thừa các quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của Công ty TNHH MTV M trước khi chuyển đổi. Vì vậy, tư cách khởi kiện của nguyên đơn trong giai đoạn xét xử phúc thẩm là Công ty cổ phần M.

[3.2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

- Trong quá trình công tác trên cương vị Phó tổng giám đốc của Công ty, ông N đã thực hiện việc tạm ứng tiền cá nhân. Ngày 09/6/2009, Đoàn thành tra Bộ N2 làm việc với ông N theo quyết định số 726/QĐ-BNN-TTr ngày 10/4/2009 để làm rõ các vấn đề nợ phải thu theo đề cương thanh tra (Bút lúc 111-113). Theo đó, tại biên bản làm việc có nội dung ông N đã xác nhận: “Tôi xác nhận số nợ tạm tính 881.585.650 đồng là có phát sinh thật và cá nhân tôi chịu trách nhiệm với số tiền tạm ứng này”. Như vậy, trong quá trình công tác trên cương vị Phó tổng giám đốc của Công ty, ông N đã thực hiện việc tạm ứng tiền của Công ty và số tiền được ông N xác định là “nợ tạm tính 881.585.650 đồng” là tài sản hợp pháp của Công ty nay là Công ty TNHH MTV M. HĐXX nhận thấy, số tiền mà ông N tạm ứng của Tổng công ty M trong thời gian ông N còn là phó giám đốc là có thật.

- Sau khi kết thúc buổi làm việc ngày 10/4/2009, Bộ N2 có ban hành kết luận thanh tra số 4687/KL-BNN-PTr ngày 20/8/2009 (Bút lục 88-97). Tại kết luận thanh tra đã yêu cầu rất cụ thể: “Ông Ngô Huy N – nguyên phó giám đốc phải hoàn trả số tiền tạm ứng 851.585.605 đồng trước ngày 30/11/2009”. Trên cơ sở kết luận thanh tra, Bộ N2 ban hành quyết định số 2450/QĐ-BTT-TTr ngày 01/9/2009 về xử lý sau thanh tra về những tồn tại, khuyết điểm trong công tác quản lý, sử dụng các nguồn vốn tại Tổng công ty M (Bút lục 105-106), trong đó, cũng đã kết luận các cá nhân, trong đó có ông Ngô Huy N phải hoàn trả số tiền tạm ứng vào văn phòng Tổng công ty trước ngày 30/11/2009. Tuy nhiên, trên cơ sở tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho thấy không có căn cứ cho việc Công ty đã thông báo giao kết luận cho ông N để ông N thực hiện quyền khiếu nại theo quy định. Do đó từ năm 2009 đến nay, ông N không hề có động thái khiếu nại đối với kết luận của đoàn thanh tra cũng như kết luận của thanh tra Bộ ông chỉ được biết kết luận thanh tra khi nguyên đơn khởi kiện. Mặt khác năm 2008 ông N không còn làm ở công ty nên kết luận thanh tra năm 2009 trên thực tế rất khó để ông Ngô Huy N thực hiện quyền và nghĩa vụ thanh quyết toán của mình. Việc nguyên đơn khởi kiện cũng như Toà án cấp sơ thẩm chỉ dựa vào biên bản làm việc và kết luận Thanh tra mà không có thêm các tài liệu chứng cứ khác để chứng minh là chưa có cơ sở. Trên cơ sở đó để xác định trách nhiệm dân sự của ông N, Hội đồng xét xử sẽ căn cứ vào cả các Biên bản làm việc và sự thừa nhận của ông N, người làm chứng để xác định các nghĩa vụ dân sự.

Cụ thể theo biên bản làm việc ông N xác nhận số nợ tạm ứng có phát sinh thật và chịu trách nhiệm là 881.585.650 đồng. Trong đó:

1) Số tiền 464.340.105 đồng mua mỹ phẩm là có thật theo chủ trương của ban giám đốc Công ty và trả tiền trực tiếp cho bên bán. Ông N chỉ là người ký quyết toán; thực tế tại thời điểm làm việc 9/6/2009 thể hiện hàng tồn kho 225.000.000 đồng. Việc này có xác nhận của ông K1 - nguyên giám đốc Công ty M - Tổng Công ty M; ông C nguyên phó Tổng giám đốc, Tổng Công ty M, nguyên Giám đốc Chi nhánh Muối Việt Nam và bà B thủ quỹ Công ty M thời kỳ 2007-2008 xác nhận nên ông N không phải chịu trách nhiệm khoản này.

2) Về khoản tiền 187.245.000 đồng, bao gồm: Số tiền 117.245.000 là tiền vận tải các lô hàng, ông N đã đưa chứng từ cho bà B và bà B có xác nhận về việc này nên ông N không phải chịu trách nhiệm khoản này; còn lại số tiền 70.000.000 đồng do ông V tạm ứng với trách nhiệm là lãnh đạo, ông N xác nhận chỉ ký tạm ứng để ông V chuyển công tác và rút hồ sơ nên ông N phải chịu trách nhiệm; đồng thời tại phiên toà ông N cũng thừa nhận chịu trách nhiệm nên ông N phải chịu trách nhiệm khoản này.

3) Về khoản tiền 200.000.000 đồng: do ông T1 đưa cá nhân cho ông N nên ông N phải chịu trách nhiệm với số tiền này. Ông N đã hoàn trả được cho Công ty TNHH MTV M làm nhiều lần với tổng số tiền là 162.589.895 đồng. Cụ thể như sau: Số tiền 30.000.045 đồng do ông N trả trước lúc Tổng công ty M sáp nhập và Tổng công ty L1 nên không còn lưu chứng từ chuyển tiền; Ngày 15/12/2009 trả 50.000.000đồng; Ngày 2/12/2010 trả 22.589.850 đồng; Ngày 28/01/2011 trả 30.000.000đồng; Ngày 13/5/2011 trả 15.000.000đồng; Ngày 29/12/2011 trả 10.000.000đồng; Ngày 15/08/2012 trả 5.000.000đồng. Và trong quá trình tham gia tố tụng ông N cũng đã thừa nhận: Sau khi có kết luận của Đoàn thanh tra, ông N cũng đã nộp cụ thể: 162.589.895 đồng và Công ty đã xác nhận. Nên ông N còn phải chịu trách nhiệm đối với khoản tiền còn thiếu là 37.410.105 đồng.

4) Về khoản nợ 5.000.000 đồng và 15.000.000 đồng phát sinh do ông V chi tiêu và cầm chứng từ và khoản 10.000.0000 đồng ông T1 đưa ông N đi công tác đã hoàn chứng từ ông Ngô Huy N thừa nhận chịu trách nhiệm.

Như vậy, ông N còn phải phải thanh toán cho Công ty TNHH MTV M số tiền 137.410.650 đồng. Căn cứ tại Điều 255, Điều 256 Bộ luật dân sự 2005, Công ty TNHH MTV M có quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và yêu cầu ông N phải trả lại tài sản đó; Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chưa có căn cứ tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay cần chấp nhận một phần kháng cáo của ông N.

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

[4]. Về án phí:

  • Yêu cầu kháng cáo của ông Ngô Huy N được chấp nhận một phần nên ông Ngô Huy N phải không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
  • Do yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV M (nay là Công ty cổ phần M) không được chấp nhận toàn bộ nên cần sửa bản án sơ thẩm về án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Ngô Huy N; Sửa bản án số 13/2020/DS-ST ngày 16 tháng 07 năm 2020 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội như sau:

Căn cứ: Điều 255; Điều 256; Điều 599; Điều 600 của Bộ luật Dân sự năm 2005.

Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 97, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV M (nay là Công ty cổ phần M) đối với ông Ngô Huy N về kiện đòi tài sản.

2. Buộc ông Ngô Huy N phải thanh toán trả cho Công ty TNHH MTV M (nay là Công ty cổ phần M) số tiền là 137.410.650 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3.Về án phí:

  • Ông Ngô Huy N phải chịu 6.871.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai thu tiền số 0003968 ngày 27/10/2020 của Cục Thi hành án dân sự quận Cầu Giấy được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp, ông Ngô Huy N còn phải nộp 6.571.000 đồng.
  • Công ty TNHH MTV M (nay là Công ty cổ phần M) phải nộp 23.263.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Khấu trừ vào số tiền 10.637.500 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai số 3170 ngày 30/12/2019 tại Cục thi hành án dân sự quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, Công ty TNHH MTV M (nay là Công ty cổ phần M) còn phải nộp 12.625.500 đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

*Quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND.TP Hà Nội;
  • - Các đương sự;
  • - TAND quận Cầu Giấy;
  • - Chi cục THA DS quận Cầu Giấy;
  • - Lưu Văn phòng, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trương Chí Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 434/2025/DS-PT ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về kiện đòi tài sản

  • Số bản án: 434/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Kiện đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger