|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 433/2024/HS-PT Ngày: 11/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Thanh Nữ
Các thẩm phán: Ông Dương Lê Bửu Thiện
Bà Đinh Thị Kiều Lương
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang – thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Tống Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 304/2024/TLPT- HS ngày 16/7/2024 đối với bị cáo Nguyễn Quang H do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 114/2024/HS-ST ngày 20/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 383/2024/QĐ-PT ngày 15/8/2024 và Thông báo số 218/TB-TA ngày 23/8/2024.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Quang H; sinh năm 1993 tại tỉnh Hòa Bình, tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Tổ E, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình, Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không, trình độ học vấn: Lớp 12/12. Nghề nghiệp: Tự do, con ông: Nguyễn Quang Q, sinh năm 1964 (Đã chết), và bà Dương Thị N, sinh năm 1960 (Còn sống), bị cáo có vợ là Phạm Thị H1, sinh năm 1995 (kết hôn ngày 25/4/2024); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 11/2021 Phạm Thị Thủy T, sinh năm 1996, trú tại khóm H, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau và Nguyễn Quang H, sinh năm 1993, trú tại phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình có quan hệ tình cảm yêu đương. Vào khoảng cuối tháng 12/2021 chị T có đến phòng trọ của H ở khu B, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai, ngủ lại và 02 người có quan hệ tình dục với nhau. Lợi dụng sơ hở của chị T, H đã sử dụng điện thoại di động chụp lén lại một số hình ảnh lúc chị T khỏa thân. Đến ngày 28/3/2022 do phát sinh mâu thuẫn trong tình cảm nên chị T nói với H chấm dứt quan hệ tình cảm yêu đương nhưng H không đồng ý.
Do bực tức về việc bị chị T từ chối tình cảm nên vào khoảng 23 giờ 00 ngày 03/7/2022, H tạo tài khoản Facebook có tên “Lăng Nhăng Con Đĩ” rồi chia sẻ 07 bài viết lên trang Facebook cá nhân có tên “Phạm Thủy T” của chị T với nội dung “Con đĩ này ở Cà Mau; 2 đời chồng; đi cặp hết đứa này tới đứa kia; Ace nào hóng clip 6p không” và tại phần bình luận trong các bài chia sẻ này H đã đăng 02 hình ảnh khỏa thân của chị T cùng những bài viết và hình ảnh trên được chia sẻ ở chế độ công khai.
Sau khi H đăng tải những hình ảnh và bình luận xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của chị T lên mạng xã hội thì có người thân và một số bạn bè của T nhìn thấy nên báo cho T biết nên T đã nhắn tin cho H yêu cầu H gỡ bài đăng nhưng H không thực hiện nên ngày 04/7/2022 chị T đến Công an xã A tố cáo H về hành vi làm nhục người khác. Qua làm việc với lực lượng Công an xã A, H đã thừa nhận hành vi làm nhục chị T và đồng ý thực hiện việc gỡ các bài đã đăng xúc phạm danh dự, nhân phẩm của chị T nêu trên.
Đến khoảng 19 giờ 39 phút ngày 08/7/2022 trên tài khoản Facebook “Phạm M” (Chưa xác định chủ tài khoản) chụp lại các bài chia sẻ xúc phạm chị T đã được đăng tại tài khoản Facebook “Lăng Nhăng Con Đĩ” cùng các hình ảnh khỏa thân của T do tài khoản “Lăng Nhăng Con Đĩ” đăng tải trong phần bình luận để đăng tải lại lên tài khoản Facebook “Phạm M” với nội dung “Con nhà gia giáo đây sao?” kèm theo hình ảnh cá nhân của chị T, số điện thoại được đăng lên các nhóm công khai như (DD&BB, F, tinh mot đem) kèm nội dung “Cần tìm daddy khu vực nhơn trạch ạ. Liên hệ sđt 0772.633.xxx cảm ơn. Được sẽ show fb thật”. Phát hiện nội dung trên chị T đã gọi điện thoại cho H yêu cầu H xóa bỏ các bài đăng từ tài khoản Facebook “Phạm M” nhưng H không thừa nhận việc H đăng tải các hình ảnh và thông tin này nên đến ngày 14/7/2022 chị T đến Công an xã A trình báo nội dung sự việc như trên với lực lượng Công an xã A lập hồ sơ chuyển Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại bản án sơ thẩm số 114/2024/HS-ST ngày 20/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành quyết định:
Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 155, Điều 38, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố Bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội “Làm nhục người khác”.
Xử phạt : Bị cáo Nguyễn Quang H 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt bị cáo vào trại để chấp hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 21/5/2024, bị cáo Nguyễn Quang H có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai áp dụng cho bị cáo hình phạt tiền hoặc được cải tạo không giam giữ.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:
Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử Nguyễn Quang H 06 (sáu) tháng tù về tội “Làm nhục người khác” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, lời khai nhận tội của bị cáo, phù hợp các lời khai khác có tại hồ sơ, được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bị hại không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.
[2] Về kháng cáo:
Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Tại tòa Bị cáo đề áp dụng cho bị cáo hình phạt tiền; được cải tạo không giam giữ. Hoặc xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
[3] Về tội danh:
Giữa bị cáo và bị hại có quan hệ tình cảm với nhau, lợi dụng vào mối quan hệ thân thiết, bị cáo đã lén lút sử dụng điện thoại di động quay lại cảnh khỏa thân của bị hại và khi phát sinh mâu thuẫn, tình cảm không còn bị cáo đã sử dụng hình ảnh này công khai trên mạng xã hội kèm lời lẽ xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của bị hại, trong đó nhân phẩm, danh dự là một trong những quyền cơ bản được pháp luật bảo vệ.
Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử Nguyễn Quang H 06 (sáu) tháng tù về tội “Làm nhục người khác” quy định tại điểm 2 khoản 2 Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
3.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
3.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp các chứng cứ trình bày bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: bị cáo phạm tội lần đầu, không có tiền án tiền sự, đã thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải; bị cáo là lao động chính trong gia đình và phải nuôi dưỡng nhiều người thân phụ thuộc vợ bị cáo sắp sinh con đầu dự sinh ngày 24/9/2024(có chứng nhận của cơ quan y tế); mẹ ruột yếu và tàn tật có giấy chứng nhận khuyết tật của phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình nơi bị cáo cư trú đồng thời mẹ vợ của bị cáo bị bỏng và có tật do bỏng.
3.3. Về hình phạt: Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét tình tiết giảm nhẹ nêu trên bị cáo có nhân thân tốt; ngoài lần phạm tội này, luôn chấp hành tốt chính sách, pháp luật tại địa phương; có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng và có khả năng tự cải tạo; việc buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù là không cần thiết. Bị cáo có đủ điều kiện, để được hưởng án treo theo hướng dẫn tại Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; do đó, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[4] Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Những nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
[6] Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với một phần nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận phần phù hợp.
[7] Về án phí: do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quang H;
Sửa một phần về hình phạt do khách quan, đối với bản án sơ thẩm số 114/2024/HS-ST ngày 20/5/2024 và Thông báo sửa chữa bổ sung bản án số 33/TB-TA của Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
1. Tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 155, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt : Bị cáo Nguyễn Quang H 06 (sáu) tháng tù tội “Làm nhục người khác” Bị cáo Nguyễn Quang H được hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (tháng), tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 11- 09 - 2024.
- Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Giao bị cáo Nguyễn Quang H cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình của bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát và giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Quang H không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
3. Quyết định của bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hà Thị Thanh Nữ |
Bản án số 433/2024/HS-PT ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (làm nhục người khác)
- Số bản án: 433/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Làm nhục người khác)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Án do bị cáo Hùng kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
