|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 433/2024/HS-PT Ngày: 03 - 06 - 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
– Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Công Mười
Các Thẩm phán: Ông Lê Văn An
Bà Nguyễn Thị Thanh
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cường - Thư ký Tòa án nhân dân
cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 898/2023/TLPT-HS ngày 01 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo Lê Huỳnh Quốc S và các bị cáo khác do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trường G, Lê Huỳnh Quốc S; kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2023/HSST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
* Các bị cáo có kháng cáo, bị kháng nghị:
- Lê Huỳnh Quốc S, sinh ngày 26/02/2007, tại Bạc Liêu; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Số D, đường H, Khóm I, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Lê Văn S1, sinh năm 1985 và bà Huỳnh Trúc M, sinh năm 1987; Bị cáo chưa có vợ; Anh, chị, em ruột gồm có 02 người: lớn là bị cáo, nhỏ sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị khởi tố ngày 26/9/2022, giao người đại diện giám sát cho đến nay (Có mặt).
- Lê Văn N, sinh ngày 12/11/2001 tại thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; Tên gọi khác: Lũ Nhỏ; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Số A, đường H, Khóm I, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Lê Văn Đ, sinh năm 1965 (đã chết) và bà Nguyễn Cẩm L, sinh năm 1969; Anh, chị, em ruột gồm có 03 người, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ là bị cáo; Bị cáo chưa có vợ; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Bản án số: 86/2017/HSST, ngày 18/9/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, xử phạt Lê Văn N 01 năm 03 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” (theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999), chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/11/2018. Tuy nhiên, thời điểm phạm tội, Lê Văn N là người dưới 16 tuổi, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 được coi là không có án tích; Bị cáo bị khởi tố ngày 12/6/2023, bị bắt tạm giam kể từ ngày 16/6/2023 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (Có mặt).
- Liên Thành C, sinh ngày 29/9/2002 tại tỉnh Bạc Liêu; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Số B, Khóm A, Phường H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Sửa xe; Con ông Liên Văn K, sinh năm 1960 và bà Lê Thị T, sinh năm 1965; Anh, chị, em ruột: Không; Họ tên vợ Phạm Thị Ái D, sinh năm 2002; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị khởi tố ngày 12/6/2023, bị bắt tạm giam kể từ ngày 16/6/2023 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (Có mặt).
- Võ Quang Đ1, sinh ngày 04/5/2002 tại tỉnh Bạc Liêu; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: ấp A, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: không rõ họ tên địa chỉ và bà Võ Thị Lệ H, sinh năm 1978; Anh, chị, em ruột gồm có 02 người, lớn là bị cáo, nhỏ sinh năm 2006; Bị cáo chưa có vợ; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị khởi tố ngày 12/6/2023, bị bắt tạm giam kể từ ngày 16/6/2023 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (Có mặt).
- Nguyễn Trường G, sinh ngày 15/11/2007 tại tỉnh Bạc Liêu; Tên gọi khác: B; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Lô M, số A, Khóm F, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn Trí T1, sinh năm 1983 và bà Huỳnh Nguyễn Thảo T2, sinh năm 1988; Anh, chị, em ruột: Không; Bị cáo chưa có vợ; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị khởi tố ngày 26/9/2022 và giao người đại diện giám sát cho đến nay (Có mặt).
* Bị hại: Anh Nguyễn Thanh H1, sinh ngày 10/6/2004); Địa chỉ: ấp T, thị trấn C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu
* Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Lê Huỳnh Quốc S: Ông Lê Văn S1, sinh năm 1985 (vắng mặt) và bà Huỳnh Trúc M, sinh năm 1987; Chỗ ở: ấp T, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
* Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Trường G: Ông Nguyễn Trí T1, sinh năm 1983 và bà Huỳnh Nguyễn Thảo T2, sinh năm 1988; Chỗ ở: Lô M, số A, Khóm F, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; (vắng mặt đã được triệu tập hợp lệ)
* Người bào chữa cho bị cáo Lê Huỳnh Quốc S: Ông Trần Minh T3 là Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B (Có mặt)
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trường G: Ông Dư Văn P (Luật sư) và Ông Châu Phi Đ2 là Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B (Có mặt)
* Người bào chữa cho bị cáo Lê Văn N: Ông Vưu Tấn T4, Luật sư Văn phòng L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B (Có mặt).
* Người bào chữa cho bị cáo Liên Thành C: Ông Trịnh Thanh N1, Luật sư Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B (Có mặt).
* Người bào chữa cho bị cáo Võ Quang Đ1: Ông Dư Văn P, Luật sư Văn phòng Luật sư Nguyễn Thị H2, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ ngày 11/7/2022, tại quán nước C đường T, khóm D, phường G, thành phố B, giữa nhóm của Trần T5 và nhóm của Nguyễn Thanh H1 xảy ra mâu thuẫn đánh nhau. Sau đó, T5 và H1 nhắn tin thông qua mạng xã hội Zalo thách thức đánh nhau, hẹn địa điểm giải quyết mâu thuẫn. T5 đã liên hệ tập hợp nhóm bạn gồm: Lê Huỳnh Quốc S, Nguyễn Trường G, Lê Văn N (L), Lâm Hoài N2, Liên Thành C, Võ Quang Đ1 và một số người khác (chưa rõ nhân thân, lai lịch).
Để chuẩn bị hung khí, T5 lấy 04 cây dao tự chế để trong túi vợt màu đen hiệu YONEX ở phòng trọ của T5 tại khóm D, phường G, thành phố B và nhờ S mượn 04 cây dao tự chế của người tên N3 (không rõ nhân thân, lai lịch). Cả nhóm của T5 tập trung dưới dốc cầu Võ Thị S2 (phía bên Phường B) gồm có: Trần T5, Lê Huỳnh Quốc S, Nguyễn Trường G, Lê Văn N (L), Lâm Hoài N2, Liên Thành C, Võ Quang Đ1 và một số người khác (chưa rõ nhân thân, lai lịch). T5 và S đưa cho C, Đ1, Văn N, Hoài N2 mỗi người cầm 01 cây dao tự chế, còn T5 và S mỗi người cầm 02 cây dao tự chế. T5 nói với cả nhóm “Tôi vô là anh em chạy vô theo sau lưng tôi nghe, chém nhanh rút gọn rồi về” thì tất cả đều đồng ý.
G điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 94F7- 7367 chở T5; C điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 94K1- 222.82 chở S; Đ1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Airbade (không rõ biển kiểm soát) chở Văn N, còn Hoài N2 đi cùng xe mô tô (không rõ biển kiểm soát) với người không rõ họ tên, địa chỉ.
Đến khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 11/7/2022, cả nhóm của T5 cùng đến đậu xe trước quán nước G1 thuộc khóm D, Phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu tìm nhóm của H1 để đánh nhau. Lúc này trong quán nước gồm có: Nguyễn Thanh H1, Phạm Văn K1, Lê Trưởng N4, H, Phan Minh Đ3 và Nguyễn Quốc T6 đang ngồi uống nước tại bàn gần quầy thu ngân. Thiên, S, Hoài N2 và Đ1 tất cả cầm dao tự chế chạy vào trong quán chỗ nhóm của H1 đang ngồi, còn Văn N, C và G ở bên ngoài hỗ trợ.
S hai tay cầm 02 cây dao tự chế rượt đuổi chém H1, Huỳnh b chạy vào khu vực quầy thu ngân trong quán không còn lối thoát, S dùng dao tấn công chém liên tiếp nhiều nhát từ trên xuống hướng vào vùng đầu của H1, trong tình trạng mất khả năng phản kháng, H1 chỉ biết dùng tay cầm mũ bảo hiểm chống đỡ làm rơi mũ bảo hiểm xuống nền gạch, nhưng S vẫn tiếp tục chém liên tiếp nhiều nhát, H1 dùng hai tay ôm đầu và lấy ghế xoay ở gần đó để chống đỡ, hậu quả H1 bị các vết thương ở vùng thái dương phải, vai phải và nhiều vết thương ở các ngón I, II, III, IV bàn tay trái; Trong lúc S đang tấn công H1, T5 lấy 02 ly thủy tinh ở gần đó ném về phía Huỳnh.
Thiên hai tay cầm 02 cây dao tự chế, dùng dao chém 01 nhát trúng hông trái, cẳng tay trái của Phạm Văn K1 gây thương tích; Hoài Nam cầm 01 cây dao tự chế chém K1 nhưng không trúng, K1 bỏ chạy ra ngoài thì Văn N cầm 01 cây dao tự chế chạy phía bên ngoài vòng lên cửa chính, thấy K1 từ trong quán chạy ra, Văn N liền dùng dao chém nhưng không trúng; Đ1 cầm 01 cây dao tự chế rượt đuổi chém nhóm của H1 nhưng không trúng; C cầm 01 cây dao tự chế đứng bên ngoài quán hỗ trợ đồng phạm nhưng không chém được ai, do họ chạy thoát; G không trực tiếp tham gia đánh nhau nhưng đỗ xe ở trước quán để hỗ trợ đồng phạm chạy thoát. Khi thấy nhóm của H1 bỏ chạy, G chở T5 và Văn N tiếp tục đuổi theo chạy hướng cầu Võ Thị S2 để chém nhưng không đuổi kịp.
Sau khi gây án, Hoài N2 ném 01 cây dao tại khu vực trước quán nước, Đ1 ném 01 cây dao xuống sông C, Đ1 chở Văn N về nhà của Văn N cất 01 cây dao tại nhà, C chở S về nhà của C và đưa cây dao cho S ném tại đống đá trước nhà của C. G chở T5 đến quán nước ở đầu đường N. Sau đó, T5 để 04 cây dao tự chế do T5 và S sử dụng làm hung khí gây án trong túi vợt màu đen hiệu YONEX, nhờ G chở T5 mang đến gửi cho Trần Khôi N5 (bạn của T5) ở khóm C, Phường C, thành phố B cất giữ.
Đối với Nguyễn Thanh H1 được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B cấp cứu điều trị, đến ngày 18/7/2022 ra viện. Phạm Văn K1 bị thương tích nhẹ, được người bạn đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B khâu vết thương rồi về nhà.
Ngày 13/7/2022, các đối tượng Trần T5, Lê Huỳnh Quốc S và Nguyễn Trường G đến Cơ quan điều tra đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội cùng các đồng phạm.
* Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ “Giết người” xảy ra ngày 11/7/2022, tại Quán G, Khóm D, Phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Quá trình khám nghiệm thu các dấu vết, mẫu vật gồm: vết màu nâu trên âm ly và tựa lưng ghế xoay tại khu vực quầy thu ngân trong Phòng lạnh quán G2.
* Tại Bản kết luận giám định Pháp y về thương tích số: 117/TgT, ngày 12/8/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh B, kết luận thương tích của Nguyễn Thanh H1 như sau:
- + Một sẹo ở thái dương phải, tỷ lệ 01% ; Một sẹo nông ở vai phải, tỷ lệ 01%. Cơ chế hình thành thương tích là do vật sắc tác động từ phải qua trái.
- + Một sẹo ở ngón I bàn tay trái, tỷ lệ 01%; Một sẹo ở ngón II bàn tay trái, tỷ lệ 01%; Hai sẹo ở ngón III bàn tay trái, tỷ lệ 02%; Một sẹo ở mặt lòng ngón IV bàn tay trái, tỷ lệ 01%; Gãy đốt xa ngón I bàn tay trái, tỷ lệ 01%; Mẻ xương đốt giữa ngón III bàn tay trái, tỷ lệ 01%; Đứt gân duỗi ngón III bàn tay trái đã khâu nối phục hồi, theo Thông tư 22 không quy định tỷ lệ. Cơ chế hình thành thương tích là do vật sắc tác động từ trái qua phải.
- + Một sẹo mổ dọc theo đốt giữa ngón III bàn tay trái, để khâu nối gân duỗi, tỷ lệ 01%. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 09%.
* Bản kết luận giám định Pháp y về thương tích số: 118/TgT, ngày 12/8/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh B, kết luận thương tích của Phạm Văn K1 như sau:
- + Một sẹo ở vùng hông bên trái. Tỷ lệ 02%. Cơ chế hình thành thương tích là do vật sắc tác động từ trái qua phải.
- + Tại thời điểm giám định cẳng tay trái không ghi nhận thương tích, do đó không có cơ sở để xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể, vật gây thương tích và chiều hướng tác động. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 02%.
* Bản Kết luận giám định số: 4222/KL-KTHS, ngày 30/8/2022 của Phân Viện khoa học hình sự Bộ C1 tại thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Chất màu nâu ghi thu trên âm ly hiệu Calfornia electronics là máu người, phân tích gen (ADN) từ dấu vết máu này được 01 kiểu gen, trùng với kiểu gen của Nguyễn Thanh H1.
* Ông Diệp Văn S3 - Quản lý quán G2 giao nộp 01 (một) đĩa CD có 04 (bốn) file tập tin dữ liệu hình ảnh Camera ghi lại diễn biến vụ đánh nhau gây thương tích tại quán G2, Phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu vào tối ngày 11/7/2022.
* Tại Bản Kết luận giám định số: 5070/KL-KTHS, ngày 11/01/2023 của Phân Viện khoa học hình sự Bộ C1 tại thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:
- + Không phát hiện thấy dấu vết bị chỉnh sửa, cắt ghép về nội dung trên bị 04 (bốn) tập tin video gửi giám định (ký hiệu từ A1 đến A4) và 04 tập tin video này có cùng thời gian hiển thị ngày 11/7/2022.
- + Diễn biến vụ việc, đặc điểm nhận dạng, hành vi của các đối tượng liên quan xuất hiện trong các tập tin video gửi giám định được mô tả chi tiết tại bản ảnh đính kèm theo kết luận này.
- + Bản ảnh đính kèm có hình ảnh và nội dung thể hiện: Lê Huỳnh Quốc S (ký hiệu số 01) hai tay cầm hai cây dao chém liên tục nhiều lần vào vùng đầu, vai của Nguyễn Thanh H1 (ký hiệu số 02), (ảnh 1, 2, 3); Trần T5 (ký hiệu số 03) tay phải đang cầm một vật ném 02 lần về phía Nguyễn Thanh H1, tay trái cầm hai cây dao (ảnh 4, 5) và hình ảnh Trần T5 lên xe Nguyễn Trường G điều khiển (ảnh 6).
* Ngày 13/7/2022, Trần Khôi N5 (bạn của T5) tự nguyện giao nộp 01 (một) bao vợt cầu lông màu đen, có dòng chữ YONEX bên trong gồm có 04 cây dao tự chế. Qua làm việc bị cáo Trần T5 và Lê Huỳnh Quốc S đã xác nhận 04 cây dao trên là hung khí T5 và S sử dụng gây án.
* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thanh H1 yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền chi phí điều trị thương tích là 7.294.098 đồng. Các bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện thỏa thuận khắc phục cho bị hại H1 với tổng số tiền: 23.500.000 đồng, bao gồm: Lê Huỳnh Quốc S, số tiền 8.000.000 đồng; Nguyễn Trường G, số tiền 1.500.000 đồng; Lê Văn N (L), số tiền 2.000.000 đồng; Lâm Hoài N2, số tiền 3.000.000 đồng; Liên Thành C, số tiền 4.000.000 đồng; Võ Quang Đ1, số tiền 5.000.000 đồng. Riêng gia đình Trần Thiên n khắc phục hậu quả số tiền 500.000 đồng tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu (biên lai số 0003313, ngày 17/8/2023).
* Tại Cáo trạng số: 39/CT-VKS-P1 ngày 23 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu, truy tố các bị cáo Trần T5, Lê Huỳnh Quốc S, Lê Văn N (L), Lâm Hoài N2, Liên Thành C, Võ Quang Đ1 và Nguyễn Trường G về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2023/HSST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu, quyết định:
- Tuyên bố các bị cáo Trần T5, Lê Huỳnh Quốc S, Nguyễn Trường G, Lê Văn N, Lâm Hoài N2, Liên Thành C, Võ Quang Đ1 phạm tội “Giết người”.
-
Tuyên phạt:
-
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2
Điều 51; Điều 15; Điều 17; khoản 1 Điều 38; Điều 58; Điều 90; khoản 1, khoản
5, khoản 6 Điều 91; khoản 4 Điều 98; khoản 2 Điều 101; khoản 1, khoản 3 Điều
102 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Lê Huỳnh Quốc S 04 (B1) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.
-
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2
Điều 51; Điều 15; Điều 17; khoản 1 Điều 38; khoản 2 Điều 54; khoản 1, khoản 3
Điều 57; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Lê Văn N (L) 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 16/6/2023.
-
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2
Điều 51; Điều 15; Điều 17; khoản 1 Điều 38; khoản 2 Điều 54; khoản 1, khoản 3
Điều 57; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Liên Thành C 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 16/6/2023.
-
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2
Điều 51; Điều 15; Điều 17; khoản 1 Điều 38; khoản 2 Điều 54; khoản 1, khoản 3
Điều 57; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Võ Quang Đ1 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 16/6/2023.
-
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2
Điều 51; Điều 15; Điều 17; khoản 1 Điều 38; Điều 58; Điều 90; khoản 1, khoản
5, khoản 6 Điều 91; khoản 4 Điều 98 và khoản 2 Điều 101; khoản 1, khoản 3
Điều 102 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường G 02 (Hai) năm 06 (S2) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.
Bản án sơ thẩm còn xử phạt các bị cáo Trần T5, Lâm Hoài N2 mỗi bị cáo 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù; Quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
-
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2
Điều 51; Điều 15; Điều 17; khoản 1 Điều 38; Điều 58; Điều 90; khoản 1, khoản
5, khoản 6 Điều 91; khoản 4 Điều 98; khoản 2 Điều 101; khoản 1, khoản 3 Điều
102 Bộ luật Hình sự.
* Sau khi xét xử sơ thẩm:
- - Ngày 27-29/9/2023 các bị cáo Lê Huỳnh Quốc S, Nguyễn Trường G có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
- - Ngày 29/9/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu có kháng nghị đề nghị sửa án sơ thẩm theo hướng không áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Văn N, Liên Thành C, Võ Quang Đ1 và tăng hình phạt đối với các bị cáo.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao phát biểu quan điểm như sau:
Vẫn giữ nguyên quan điểm kháng nghị, đồng thời đề nghị chấp nhận kháng nghị, sửa một phần bản án sơ thẩm, tăng hình phạt đối với các bị cáo Lê Văn N, Liên Thành C và Võ Quang Đ1, mỗi bị cáo mức hình phạt từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù; Đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo S và G.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận phúc thẩm định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Trường G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt không có lý do. Vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo luật định.
[2] Về nội dung:
Trong vụ án này, chỉ vì để giải quyết mâu thuẫn cá nhân, bị cáo Trần T5 đã cùng các đồng phạm chuẩn bị nhiều hung khí là dao tự chế tìm nhóm của người bị hại Nguyễn Thanh H1 để chém.
Khi tìm gặp nhóm bị hại tại quán nước G1, bị cáo Trần T5 đã cầm dao xông vào quán chém 01 nhát trúng vào hông trái và tay trái của Phạm Văn K1 gây thương tích với tỷ lệ 2%. Các bị cáo Lê Văn N, Lâm Hoài N2, Liên Thành C, Võ Quang Đ1 mỗi người cầm 01 con dao tự chế đuổi chém nhóm bị hại H1, nhưng không trúng ai. Bị cáo Lê Huỳnh Quốc S hai tay cầm 02 con dao tự chế rượt đuổi và chém nhiều nhát liên tiếp, hướng từ trên xuống dưới nhằm vùng đầu của Nguyễn Thanh H1. Trong tình trạng không thể tự vệ, phản kháng và không thể thoát thân, H1 chỉ dùng tay cầm mũ bảo hiểm chống đỡ, khi mũ bảo hiểm bị rơi xuống nền gạch nhưng S vẫn dùng dao chém liên tiếp nhiều nhát nên H1 phải dùng tay ôm đầu và lấy ghế gần đó xoay sở, chống đỡ... Hậu quả, H1 bị các vết thương: rách da vùng thái dương phải, vai phải và nhiều vết thương ở các ngón I, II, III và IV bàn tay trái, với tổng tỷ lệ thương tích qua giám định là 09%. Như vậy, với vị trí bị tấn công, hung khí tấn công cũng như tính chất, mức độ trong hành vi của bị cáo S cho thấy, việc người bị hại không tử vong là do yếu tố khách quan và ngoài ý muốn của bị cáo. Tòa án cấp sơ thẩm xác định hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Giết người” với tình tiết định khung “Có tính côn đồ” và thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt là có căn cứ và đúng pháp luật.
[2] Đối với yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Lê Huỳnh Quốc S và Nguyễn Trường G thấy rằng:
Mặc dù thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, 02 bị cáo này là người chưa thành niên phạm tội (bị cáo S sinh ngày 26/02/2007; bị cáo G sinh ngày 15/11/2007). Tuy nhiên, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng người khác, cần phải xử lý nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo và cũng để giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.
Bị cáo Lê Huỳnh Quốc S là người thực hành, trực tiếp thực hiện hành vi dùng 02 cây dao tự chế tấn công chém liên tiếp nhiều nhát từ trên xuống hướng vào vùng đầu của bị hại H1, khi H1 làm rơi mũ bảo hiểm xuống nền gạch, nhưng S vẫn tiếp tục chém liên tiếp nhiều nhát, H1 dùng hai tay ôm đầu và lấy ghế xoay ở gần đó để chống đỡ, hậu quả S gây thương tích cho bị hại Nguyễn Thanh H1 tỷ lệ 09% nên mức án của bị cáo S cao hơn các bị cáo khác; bị cáo Nguyễn Trường G tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức nên mức án nhẹ hơn các bị cáo T5 và S.
Từ đó cho thấy, mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với 02 bị cáo này là phù hợp. Các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nhưng không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nào mới, vì vậy không có cơ sở để chấp nhận.
[3] Đối với nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu, xét thấy:
Các bị cáo Lê Văn N (sinh ngày 12/11/2001), Liên Thành C (sinh ngày 29/9/2002 và Võ Quang Đ1 (sinh ngày 04/5/2002) tính đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội (ngày 11/7/2022) thì các bị cáo này đều là người đã trên 18 tuổi. Căn cứ các chứng cứ, tài liệu đã thu thập cho thấy mặc dù các bị cáo này không trực tiếp gây ra thương tích cho người bị hại, nhưng có căn cứ xác định các bị cáo này tham gia với vai trò giúp sức tích cực, được thể hiện qua việc các bị cáo này đã chuẩn bị sẵn công cụ phạm tội là dao tự chế, thống nhất ý chí cùng các bị cáo T5 và S. Đồng thời, khi người bị hại bỏ chạy, các bị cáo Văn N, Đ1 và C đều cầm dao rượt đuổi theo để chém người bị hại. Việc các bị cáo không gây thương tích cho người bị hại là do yếu tố khách quan phíc bị hại bỏ chạy và thoát thân kịp thời. Riêng đối với bị cáo Lê Văn N mặc dù được xác định là không có tiền án, nhưng là người có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt về tội “Cướp giật tài sản”, nên mức hình phạt của bị cáo này cần phải nghiêm hơn các bị cáo Đ1 và C.
Từ đó cho thấy, việc Tòa án cấp sơ thẩm nhận định các bị cáo này tham gia với vai trò thứ yếu, không đáng kể và áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt 03 bị cáo này đều có mức hình phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù là không phù hợp và chưa đánh giá đúng đúng tính chất, mức độ và vai trò của các bị cáo trong vụ án này.
Quan điểm kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu là về nội dung này là có căn cứ, nên được chấp nhận.
[4] Quan điểm của các Luật sư bào chữa là không có cơ sở để chấp nhận.
[5] Do kháng cáo không được chấp nhận, vì vậy các bị cáo S và G phải chịu án phí thẩm.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 355; điểm a khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ của các bị cáo Lê Huỳnh Quốc S, Nguyễn Trường G.
Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 09/QĐ-VKS-P1 ngày 29/9/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
Sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 12/2023/HSST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu về hình phạt đối với các bị cáo Lê Văn N, Liên Thành C, Võ Quang Đ1 về hình phạt.
- Tuyên bố các bị cáo Lê Huỳnh Quốc S, Nguyễn Trường G, Lê Văn N, Liên Thành C, Võ Quang Đ1 phạm tội “Giết người”.
-
Tuyên phạt:
-
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2
Điều 51; Điều 15; Điều 17; khoản 1 Điều 38; Điều 58; Điều 90; khoản 1, khoản
5, khoản 6 Điều 91; khoản 4 Điều 98; khoản 2 Điều 101; khoản 1, khoản 3 Điều
102 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Lê Huỳnh Quốc S 04 (B1) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.
-
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2
Điều 51; Điều 15; Điều 17; khoản 1 Điều 38; Điều 54; khoản 1, khoản 3 Điều
57; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Lê Văn N (L) 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 16/6/2023.
-
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2
Điều 51; Điều 15; Điều 17; khoản 1 Điều 38; Điều 54; khoản 1, khoản 3 Điều
57; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Liên Thành C 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 16/6/2023.
-
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2
Điều 51; Điều 15; Điều 17; khoản 1 Điều 38; Điều 54; khoản 1, khoản 3 Điều
57; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Võ Quang Đ1 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 16/6/2023.
-
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2
Điều 51; Điều 15; Điều 17; khoản 1 Điều 38; Điều 54; Điều 58; Điều 90; khoản
1, khoản 5, khoản 6 Điều 91; khoản 4 Điều 98 và khoản 2 Điều 101; khoản 1,
khoản 3 Điều 102 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường G 02 (Hai) năm 06 (S2) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.
Tiếp tục giam giữ các bị cáo để đảm bảo thi hành án.
-
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2
Điều 51; Điều 15; Điều 17; khoản 1 Điều 38; Điều 58; Điều 90; khoản 1, khoản
5, khoản 6 Điều 91; khoản 4 Điều 98; khoản 2 Điều 101; khoản 1, khoản 3 Điều
102 Bộ luật Hình sự.
- Về án phí: Các bị cáo S và G phải chịu án phí phúc thẩm, mỗi bị cáo là 200.000 đồng.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Công Mười |
Bản án số 433/2024/HS-PT ngày 03/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm về tội giết người
- Số bản án: 433/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Giết người
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa án sơ thẩm
