TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 433/2025/HS-ST Ngày: 25/6/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Nhã
Thẩm phán: Ông Trần Đức Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phí Văn Nghi
Ông Đinh Hoài Nam
Ông Mai Quý Dân
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Huy – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 200/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 357/2025/HSST-QĐ ngày 02 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị M, sinh năm 1984; giới tính: nữ; ĐKHKTT: số A đường số B, phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: P1802 W chung cư V, phường M, quận N, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Mai Thị T1; đã ly hôn và có 02 con; tiền sự: không; tiền án: Bản án số 74/2021/HSST ngày 07/7/2021, Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 02 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chấp hành án từ ngày 21/3/2024 (Trại giam T5); nhân thân: ngày 10/5/2019 bị Công an quận T, Thành phố Đà Nẵng xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc; xin xét xử vắng mặt.
Người bào chữa: Luật sư Nguyễn Đình T2 thuộc Văn phòng L; có mặt.
Bị hại: Chị Nguyễn Thu T3, sinh năm 1984; Nơi cứ trú: P, T, Cầu G, Thành phố Hà Nội; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Nguyễn Hồng N1, sinh năm 1993; Nơi cứ trú: P1502 tòa W1, V, M, N, Thành phố Hà Nội; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 28/12/2023, do có nhu cầu tìm mua nhà chung cư để ở tại khu vực quận N, Hà Nội nên chị Nguyễn Thu T3 đã đến Công ty Cổ phần Đ (Gọi tắt là Công ty Đ), địa chỉ: W Chung cư V, phường M, quận N, Thành phố Hà Nội để hỏi thông tin. Tại đây, chị Nguyễn Hồng N1 (sinh năm 1993; Nơi ĐKTT: TDP A, M, quận N, TP Hà Nội) - là nhân viên môi giới, trực tiếp tư vấn giới thiệu sản phẩm cho chị T3. Do trước đó, chị N1 quen biết Nguyễn Thị M vì ở cùng khu chung cư; M còn là bạn học của chồng chị N1 có nhiều lần M mời đến ăn uống cùng gia đình M tại căn hộ S tòa W Chung cư V và được M giới thiệu M là chủ sở hữu và đang muốn bán căn hộ trên, hiện đang làm thủ tục rút hồ sơ mua bán gốc từ chủ đầu tư; nếu tìm được khách nào có nhu cầu mua thì giới thiệu cho M. M đưa ra giá bán căn hộ trên cho chị N1 để giới thiệu với khách hàng là 06 tỷ đồng. Do vậy, chị N1 đã tư vấn cho chị T3, chủ căn hộ 1802 tòa W3 Chung cư V có nhu cầu muốn bán với giá giao động khoảng 06 tỷ đồng, nếu chị T3 có nhu cầu mua, chị N1 sẽ liên hệ để chị T3 xem căn hộ và thỏa thuận trực tiếp với chủ căn hộ, chị T3 đồng ý. Cùng ngày chị N1 gọi điện thì M cho biết đang ở nhà nên chị N1 dẫn chị T3 đến căn hộ 1802 W3 chung cư V gặp M, tại đây chị N1 giới thiệu M là chủ sở hữu căn hộ trên. Khi trao đổi, M nói với chị T3: “bản thân là chủ sở hữu căn hộ, hiện M đang làm thủ tục rút hồ sơ mua bán gốc từ chủ đầu tư nên không có hồ sơ gốc căn hộ và trong khoảng 10 ngày sẽ nhận được hồ sơ căn hộ”. Thực tế Nguyễn Thị M đã thuê căn hộ S tòa W Chung cư V của ông LIN CHIN YUAN (sinh năm 02/11/1955; Quốc tịch: Đài Loan - Trung Quốc; Số HC: 351595943) kể từ tháng 09/2021 thông qua anh Nguyễn Văn N (sinh năm 1997; Nơi ĐKTT: Thôn L, xã P, huyện C, Hà Nội) - là người được ông LIN CHIN YUAN ủy quyền sử dụng và làm thủ tục cho thuê căn hộ (Hợp đồng
ủy quyền ngày 26/11/2020). M thoả thuận bán căn hộ trên cho chị T3 với giá 5,7 tỷ đồng, nếu chị T3 đồng ý mua thì đặt cọc trước số tiền 03 tỷ đồng. Do tin tưởng căn hộ trên là của M nên chị T3 đồng ý. Ngày 29/12/2023, tại quán cafe ở sảnh chung cư tòa W1 Vinhome Westpoin, chị T3 đưa cho M số tiền 03 tỷ đồng làm 02 lần, lần thứ nhất đưa trực tiếp 1,5 tỷ đồng rồi tiếp tục đi rút thêm tiền và đưa lần thứ hai cho M 1,5 tỷ đồng. Chị T3 đã chụp ảnh lại thời điểm hai bên bàn giao tiền lần đầu số tiền 1,5 tỷ đồng gồm các tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và lần 2 số tiền 1,5 tỷ đồng gồm 02 cọc tiền mệnh giá 500.000 đồng và còn lại là số tiền gồm các mệnh giá 500.000 đồng, 100.000 đồng và 200.000 đồng được để trên mặt bàn.
Việc đưa tiền cho M có chị N1 chứng kiến, sau đó, chị N1 điền thông tin cá nhân của bên mua và bên bán vào Hợp đồng đặt cọc theo mẫu của Công ty đã dự thảo từ trước. Khi M nhận tiền xong, hai bên ký hợp đồng đặt cọc mua căn hộ 1802 Vinhome West Point đề ngày 29/12/2023, nội dung: “Chị T3 đặt cọc cho M số tiền 03 tỷ đồng, tổng giá trị chuyển nhượng căn hộ là 5,7 tỷ đồng chưa bao gồm mọi chi phí sang tên căn hộ, hiệu lực hợp đồng đến ngày 13/01/2024. Khi hai bên ra văn phòng công chứng ký chuyển nhượng sổ đỏ cùng thời điểm đó chị T3 phải bàn giao cho M số tiền còn lại là 2.700.000.000 đồng; ngay khi chuyển nhượng xong M phải bàn giao giấy tờ căn hộ trên cho chị T3, bên làm chứng: Công ty Đ” cả hai thống nhất sau 15 ngày sẽ trả nốt số tiền 2,7 tỷ đồng còn lại và bàn giao căn hộ, làm thủ tục ký công chứng chuyển nhượng hợp đồng mua bán căn hộ. Đến hẹn, chị T3 liên lạc với M để thanh toán số tiền 2,7 tỷ đồng và làm thủ tục công chứng hợp đồng mua bán đồng thời nhận bàn giao căn hộ thì Nguyễn Thị M đã khất lần và nại ra lý do chưa rút được hợp đồng mua bán gốc từ chủ đầu tư; giấy tờ căn hộ đang bị Cơ quan thi hành án quận N giữ vì hai vợ chồng M đang hoàn thiện thủ tục ly hôn nên chưa lấy được hợp đồng mua bán gốc để làm thủ tục chuyển nhượng... Chị N1 và chị T3 nhiều lần nhắn tin đôn đốc về việc đến hạn cọc bàn giao nhà nhưng M cho biết đã liên hệ với chị T3 và đúng hẹn sẽ bàn giao giấy tờ nhà nhưng không thực hiện. Sau đó, M tiếp tục lấy các lý do để trì hoãn việc chuyển nhượng căn hộ cho chị T3. Do vậy, chị T3 yêu cầu nếu không chuyển nhượng căn hộ thì phải trả lại tiền đặt cọc thì M cho biết đã sử dụng hết tiền đặt cọc nên không có tiền để trả lại và khẳng
định sẽ bán lại căn hộ trên cho chị T3. Tuy nhiên sau đó, M không thực hiện đúng cam kết, không bàn giao căn hộ và cũng không hoàn trả lại số tiền đã nhận theo thỏa thuận nên chị T3 đã viết đơn tố giác M đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận N để giải quyết theo quy định pháp luật. Đến ngày 16/4/2024, ông LIN CHIN YUAN biết sự việc Nguyễn Thị M bán căn hộ số A tòa W Chung cư V của mình nên đã ủy quyền cho chị Phạm Thị Thanh B (sinh năm 1975; Trú tại: Số B ngõ A đường X, phường X, quận B, Hà Nội) thay mặt ông LIN CHIN YUAN đến cơ quan điều tra để làm việc liên quan đến căn hộ trên.
Thu giữ của chị Nguyễn Thu T3 gồm:
- + 01 Hợp đồng đặt cọc mua căn hộ đề ngày 29/12/2023
- + Các tin nhắn có liên quan trên ứng dụng mạng xã hội TeleGram giữa chị Nguyễn Thu T3 và bị can Nguyễn Thị M thể hiện việc thỏa thuận kéo dài thời hạn bàn giao giấy tờ nhà khi hết hạn hợp đồng đặt cọc.
- + Ảnh chụp 02 lần giao tiền thể hiện mỗi lần bàn giao số tiền 1,5 tỷ đồng bằng tiền mặt được để trên mặt bàn khi ký hợp đồng đặt cọc mua căn hộ 1802 W3 phù hợp với nội dung vụ án.
Thu giữ của Phạm Thị Thanh B gồm:
- + Hợp đồng cho thuê căn hộ số W3-1802/2021/HĐTN đề ngày 23/9/2022, nội dung: “Bên cho thuê (Bên A): Ông LIN CHIN YUAN; Bên thuê (Bên B): Nguyễn Thị M; (Bên A) cho (bên B) thuê toàn bộ căn hộ trên, thời hạn thuê 12 tháng kể từ ngày 24/9/2022 đến 23/9/2023; giá thuê: 23.000.000 đồng/1 tháng, thanh toán 06 tháng/ 1 lần”; Đơn trình bày ngày 22/4/2024 của ông LIN CHIN YUAN có nội dung như vụ án nêu trên; Hợp đồng ủy quyền của ông LIN CHIN YUAN cho bà Phạm Thị Thanh B.
Cơ quan điều tra thu giữ của chị Nguyễn Thị Hồng N1 gồm: Bản photo được trích xuất từ điện thoại số 0962.161.xxx thể hiện các tin nhắn qua ứng dụng mạng xã hội zalo và T4 giữa chị N1 và Nguyễn Thị M có nội dung thể hiện việc chị N1 nhắn tin thúc giục hẹn hết hạn Hợp đồng đặt cọc và đề nghị làm thủ tục để chị T3 nhận bàn giao căn hộ.
* Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 1960 ngày 03/5/2024 đối với tài liệu thu giữ.
Tại Bản Kết luận giám định số 3883 ngày 03/6/2024 của Phòng K-Công an thành phố H xác định: “Chữ ký, chữ viết dòng họ tên Nguyễn Thị M dưới chữ ký trên các mẫu cần giám định: 01 hợp đồng đặt cọc mua căn hộ, bên đặt cọc: Nguyễn Thu T3, bên nhận đặt cọc: Nguyễn Thị M, đề ngày 29/12/2023 (Ký hiệu A1) và 01 hợp đồng thuê căn hộ, số: W3-1802/2021; bên cho thuê: Lin Chin - Y; bên thuê: Nguyễn Thị M, đề ngày 23/9/2022 (Ký hiệu A2) với các mẫu so sánh 01 bản tự khai/bản tường trình đứng tên Nguyễn Thị M, đề ngày 04/4/2024 (Ký hiệu M1) và 01 biên bản ghi lời khai Nguyễn Thị M, đề ngày 04/4/2024 (Ký hiệu M2) là chữ do cùng một người ký và viết ra.”
Cơ quan điều tra xác minh tại Ban Q đối với chủ sở hữu căn hộ A tòa W Chung cư V, M, N, Hà Nội xác định: Chủ sở hữu căn hộ A là ông Lin C-Yuan (Quốc tịch: Đài Loan) là chủ sở hữu, người được ủy quyền sử dụng căn hộ là anh Nguyễn Văn N (sinh năm 1997, HKTT: P, C, Hà Nội). Tiến hành xác minh xác định ông Lin C - Y và anh Nguyễn Văn N không có bất cứ giao dịch hay uỷ quyền cho ai để mua bán căn hộ trên. Hiện căn hộ đang được cho Nguyễn Thị M thuê trong thời hạn từ 24/9/2023 đến 23/9/2024. Cơ quan điều tra đã thu thập đầy đủ các giấy tờ liên quan đến căn hộ, hợp đồng ủy quyền cũng như hợp đồng cho thuê căn hộ.
Chị Nguyễn Thu T3 và chị Nguyễn Thị Hồng N1 và ông LIN CHIN YUAN (chủ sở hữu căn hộ) bà Phạm Thị Thanh B anh Nguyễn Văn N khai nhận như nội dung vụ án nêu trên.
Chị Nguyễn Thu T3 yêu cầu Nguyễn Thị M phải trả lại cho chị 03 tỷ đồng và xử lý M theo quy định của pháp luật.
Bị can Nguyễn Thị M khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. ngoài ra bị can M còn khai giữa M và chị Nguyễn Thị Hồng N1 có vay mượn dân sự với nhau (không lập sổ sách, không có tài liệu nào xác nhận). Sau khi nhận 03 tỷ đồng tiền đặt cọc mua nhà của chị Nguyễn Thu T3, M đã đưa cho chị N1 2.750.000.000 đồng và sử dụng 250.000.000 đồng vào chi tiêu cá nhân và còn nợ chị N1 380.000.000 đồng. Chị N1 khai cho M vay nhiều lần khoảng hơn 01 tỷ đồng từ khoảng cuối năm 2022 và đã được M trả 700.000.000 đồng. M còn nợ chị N1 số tiền 382.000.000 đồng. Ngoài lời khai, M không có tài liệu chứng minh. Cơ quan điều tra tiến hành cho M và
chị N1 đối chất kết quả các bên vẫn giữ nguyên lời khai của mình. Việc M khai sử dụng số tiền 2.750.000.000 đồng nhận của chị T3 để trả nợ các khoản vay của chị N1 nhưng không có tài liệu chứng minh.
Đối với chị Nguyễn Thị Hồng N1 việc môi giới mua bán căn hộ cho chị T3. M và chị N1 đều khai M giới thiệu cho chị N1 là M là chủ sở hữu căn hộ muốn bán, nếu chị N1 biết ai có nhu cầu mua thì giới thiệu, M không cho chị N1 xem hồ sơ căn hộ gốc nên chị N1 không biết căn hộ này là M thuê lại, không phải chủ sở hữu hợp pháp. Kết quả kiểm tra, trích xuất tin nhắn giữa M và chị N1 thể hiện chị N1 không biết nguồn gốc căn hộ mà chỉ thực hiện giao dịch thỏa thuận đúng chức năng của nhân viên môi giới.
Tại Bản cáo trạng số 182/CT-VKSHN–P3 ngày 27/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Thị M về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị hại không có ý kiến gì về tội danh, khung hình phạt Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo. Bị hại đề nghị xử phạt bị cáo nghiêm minh và buộc bồi thường số tiền 3.000.000.000 đồng.
- Quan điểm Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của các bị cáo. Đại diện viện kiểm sát đề nghị:
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Thị M từ 16 đến 17 năm tù. Tổng hợp với hình phạt tại bản án của Tòa án thành phố L, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung. Buộc bị cáo bồi thường bị hại số tiền 3.000.000.000 đồng.
- Người bào chữa cho các bị cáo đồng ý tội danh, khung hình phạt và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do Đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt vì bị cáo thành khẩn khai báo, đã ăn năn hối cải.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng.
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ người tham gia tố tụng. Bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của bị cáo không trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị cáo.
[2] Về trách nhiệm hình sự.
Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với kết luật giám định và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở để kết luận: Nguyễn Thị M không có công việc ổn định, tháng 09/2021 M đã thuê căn hộ S tòa W Chung cư V, M, N, Hà Nội của ông LIN CHIN YUAN để ở. Với mục đích chiếm đoạt tiền để chi tiêu cá nhân nên M đã đưa ra thông tin gian dối với chị Nguyễn Thu T3 và chị Nguyễn Thị Hồng N1 là bản thân M là chủ sở hữu căn hộ 1802 tòa W3 Chung cư V, M, N, Hà Nội có nhu cầu muốn bán nhà đồng thời cho chị T3 xem nhà. Khi gặp chị T3, M đã thỏa thuận giá bán là 5,7 tỷ nhưng phải đặt cọc trước là 03 tỷ đồng. Do tin tưởng M nói là thật nên chị T3 đã đồng ý mua căn hộ nêu trên. Ngày 29/12/2023 M đã yêu cầu chị T3 đặt cọc số tiền 3.000.000.000 đồng để mua căn hộ số 1802. Sau khi nhận 3.000.000.000 đồng của chị T3, M chiếm đoạt sử dụng vào mục đích cá nhân hết.
Với hành vi nêu trên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Thị M về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ. Bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, chiếm đoạt số tiền lớn đến nay chưa bồi thường; bị cáo có nhân thân xấu, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm. Vì vậy, cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian tương xứng, mới đủ sức răn đe, giáo
dục và phòng ngừa chung. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét bị cáo thành khẩn khai báo để giảm nhẹ một phần hình phạt.
Đối với chị Nguyễn Hồng N1, khi môi giới cho chị Nguyễn Thu T3 mua nhà, chị N1 không biết bị cáo đưa ra thông tin gian dối về nguồn gốc tài sản nên không đồng phạm với bị cáo.
[3] Về trách nhiệm dân sự.
Kết quả tranh tụng xác định bị cáo còn chiếm đoạt của bị hại số tiền 3.000.000.000 đồng nên cần buộc bị cáo bồi thường số tiền tương ứng.
[4] Về án phí, quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm; người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị M phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Nguyễn Thị M 16 năm tù. Tổng hợp với hình phạt 02 năm tù tại Bản án số 74/2021/HSST ngày 07/7/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 18 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/3/2024.
- Áp dụng Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 589 Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo bồi thường chị Nguyễn Thu T3 3.000.000.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N2 công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
- Căn cứ Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; 92.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Nhã |
Bản án số 433/2025/HS-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 433/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị M - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
