|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:433 /2024/DS-PT Ngày: 21-8-2024 V/v “Tranh chấp hụi” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Thế Hồng; |
| Các Thẩm phán: | Ông Phạm Văn Tỉnh; |
| Ông Tôn Văn Thông. |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Trung - Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre: Bà Nguyễn Thị Thanh Thảo - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 218/2024/TLPT-DS ngày 12 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp hụi”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 135/2024/DS-ST ngày 05 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 2688/2024/QĐ-PT ngày 24 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1982;
Địa chỉ: số B, ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre; có mặt.
- Bị đơn: Bà Đỗ Thị Ngọc H, sinh năm 1968;
Địa chỉ: số I, ấp Đ, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Diệp Văn T, sinh năm 1966;
Địa chỉ: số I, ấp Đ, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Đỗ Thị Ngọc H và ông Diệp Văn T: Bà Võ Thị Minh T1, sinh năm 1982; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Q là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung án sơ thẩm,
Tại đơn khởi kiện, văn bản trình bày ý kiến, biên bản hòa giải và phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn bà Nguyễn Thị Q trình bày:
Trước đây qua quen biết nên bà có tham gia chơi 20 dây hụi do bà Đỗ Thị Ngọc H làm chủ hụi. Các dây hụi cùng mở ngày 30/8/2022 (âm lịch), ngày mãn hụi 05/6/2024 âm lịch, hụi mệnh giá 1.000.000đồng/tháng/dây hụi; bà tham gia mỗi dây hụi 1 phần, mỗi dây hụi gồm 25 phần, đã đóng hụi được 15 kỳ với số tiền là 300.000.000 đồng (15 tháng x 20 dây x 1000.000 đồng), số tiền này đã tính tiền lời hụi đến khi mãn hụi, còn số tiền thực tế bà đã đóng của các dây hụi là 210.000.000 đồng. Bà đã bỏ thăm để hốt hụi đối với 10 dây hụi, số tiền bỏ thăm cao nhất là 400.000 đồng/dây, bà có quyền hốt hụi cả 10 dây hụi nhưng bà H không giao tiền hụi theo thỏa thuận. Sau nhiều lần yêu cầu, bà H có trả cho bà được 80.000.000 đồng, rồi hứa sẽ trả hoàn tất số tiền hụi còn nợ nhưng sau đó bà H tuyên bố bị vỡ hụi và không trả số tiền còn lại là 220.000.000 đồng (đã tính hụi lời).
Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Đỗ Thị Ngọc H và ông Diệp Văn T (chồng bà H) phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền hụi thực tế bà đã đóng còn lại là 130.000.000 đồng, bà không yêu cầu trả số tiền lãi 90.000.000 đồng theo như đơn khởi kiện.
Tại văn bản trình bày ý kiến, biên bản hòa giải và phiên tòa sơ thẩm người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:
Bà Đỗ Thị Ngọc H có làm chủ hụi, còn bà Nguyễn Thị Q là hụi viên. Trong thời gian bà H làm chủ hụi thì bà Q có tham gia chơi 20 dây hụi, các dây hụi cùng mở ngày 30/8/2022 (âm lịch), ngày mãn hụi là 05/6/2023 âm lịch, hụi mệnh giá 1.000.000đồng/tháng/dây dụi, bà Q tham gia mỗi dây hụi 1 phần, mỗi dây hụi gồm 25 phần. Bà Q đóng hụi được 15 kỳ với số tiền thực tế đã đóng là 210.000.000 đồng, nếu tính luôn tiền lời hụi đến khi mãn hụi thì bà Q sẽ được nhận số tiền là 300.000.000 đồng. Tuy nhiên, do có nhiều hụi viên giật hụi nên dẫn đến bà H bị bể hụi, mất khả năng thanh toán nên chỉ trả được cho bà Q số tiền 80.000.000 đồng.
Việc bà H làm chủ hụi thì chồng của bà H là ông Diệp Văn T cũng có biết và mục đích bà H làm chủ hụi là để kiếm thêm thu nhập, lo cho kinh tế gia đình. Vì vậy, đối với yêu cầu của bà Q về việc yêu cầu bà H, ông T cùng trả số tiền hụi còn nợ 130.000.000 đồng thì bà H, ông T cũng đồng ý trả nhưng nay do hoàn cảnh khó khăn, phải đi làm thuê từng ngày nên xin được trả dần hàng tháng, mỗi tháng trả 3.000.000 đồng cho đến khi trả hoàn tất số tiền trên.
Sau khi hòa giải không thành, Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách đã đưa vụ án ra xét xử.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 135/2024/DS-ST ngày 05 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre đã quyết định (tóm tắt):
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Q đối với bà Đỗ Thị Ngọc H và ông Diệp Văn T về việc “Tranh chấp hụi”.
Buộc bà Đỗ Thị Ngọc H và ông Diệp Văn T phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Q số tiền hụi còn nợ là 130.000.000đ (Một trăm ba mươi triệu) đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về tiền lãi chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 19/6/2024, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Q kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại theo hướng buộc bà Đỗ Thị Ngọc H và ông Diệp Văn T phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà một lần số tiền hụi còn nợ là 130.000.000 (một trăm ba mươi triệu) đồng và thời hạn trả nợ là 30 ngày, kể từ ngày Tòa án xét xử.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Q vẫn giữ nguyên nội dung khởi kiện, kháng cáo và trình bày trong thời gian bà H làm chủ hụi, bà có tham gia chơi 20 dây hụi, các dây hụi cùng mở ngày 30/8/2022 (âm lịch), ngày mãn hụi là 05/6/2023 âm lịch, hụi mệnh giá 1.000.000 đồng/tháng/dây hụi, bà Q tham gia mỗi dây hụi 1 phần, mỗi dây hụi gồm 25 phần. Bà Q đóng hụi được 15 kỳ với số tiền thực tế đã đóng là 210.000.000 đồng, bà H chỉ trả được cho bà số tiền 80.000.000 đồng. Nay bà yêu cầu bà Đỗ Thị Ngọc H và ông Diệp Văn T phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà một lần số tiền hụi còn nợ là 130.000.000 đồng và thời hạn trả nợ là 30 ngày, kể từ ngày Tòa án xét xử.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Đỗ Thị Ngọc H và ông Diệp Văn T là bà Võ Thị Minh T1 có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên tòa xét xử vắng mặt bà T1 theo quy định của pháp luật.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng, những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Q, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 135/2024/DS-ST ngày 05 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên, xét kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Q. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Q kháng cáo và thực hiện các thủ tục kháng cáo hợp lệ, trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Q khởi kiện yêu cầu bà Đỗ Thị Ngọc H và ông Diệp Văn T phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền hụi còn nợ là: 220.000.000 đồng (bao gồm tiền gốc là 130.000.000 đồng và tiền lãi là 90.000.000 đồng), không yêu cầu tính lãi. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bà Q thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện về tiền lãi, chỉ yêu cầu bà H, ông T trả số tiền hụi thực tế đã đóng là 130.000.000 đồng (tiền gốc). Xét thấy, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện, không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu, phù hợp với quy định tại Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét chấp nhận.
[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Q, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[3.1] Bà Q là hụi viên có tham gia chơi hụi do bà H làm chủ hụi là có thật, được cả hai thừa nhận. Bị đơn cũng thừa nhận hiện nay còn nợ bà Q số tiền hụi (tiền gốc) thực tế đã đóng là 130.000.000 đồng. Xét đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, có căn cứ xác định bà H còn nợ bà Q số tiền hụi gốc là 130.000.000 đồng.
[3.2] Việc bà H không trả cho bà Q số tiền này là vi phạm nghĩa vụ của chủ hụi (họ) theo quy định tại Điều 18 của Nghị định 19/2019/NĐ-CP của Chính phủ ngày 19 tháng 02 năm 2019 về họ, hụi, biêu, phường. Do đó, Tòa án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Q và buộc bà H phải có nghĩa vụ trả cho bà Q số tiền hụi gốc là 130.000.000 đồng là có căn cứ.
[3.3] Về trách nhiệm liên đới của ông Diệp Văn T (chồng bà H): Việc bà H làm chủ hụi là nhằm mục đích tăng thêm thu nhập, lo cho kinh tế gia đình và phát sinh trong thời kỳ hôn nhân giữa bà H và ông T. Do đó, căn cứ Điều 27 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, ông T phải có trách nhiệm liên đới cùng với bà H trả cho bà Q số tiền 130.000.000 đồng.
[4] Đối với kháng cáo của bà Q yêu cầu buộc bà H và ông Diệp Văn T có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Q số tiền hụi còn nợ 130.000.000 đồng, trả làm một lần và thời hạn trả là 30 ngày kể từ ngày Tòa án xét xử. Bà H và ông T không có ý kiến thống nhất nội dung kháng cáo của bà Q. Xét việc thực hiện nghĩa vụ dân sự khi bản án có hiệu lực pháp luật là giai đoạn thi hành án, theo đó người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật thi hành án dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bà Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị Q phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Q.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 135/2024/DS-ST ngày 05/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
Cụ thể tuyên:
Căn cứ các Điều 471, 357, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 27 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ các Điều 15, 18, 21, 23, 25 của Nghị định 19/2019/NĐ-CP của Chính phủ ngày 19 tháng 02 năm 2019 về họ, hụi, biêu, phường;
Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Q đối với bà Đỗ Thị Ngọc H và ông Diệp Văn T về việc “Tranh chấp hụi”.
Buộc bà Đỗ Thị Ngọc H và ông Diệp Văn T phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Q số tiền hụi còn nợ là 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Đỗ Thị Ngọc H và ông Diệp Văn T phải có nghĩa vụ liên đới chịu là 6.500.000 đồng (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng).
- Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị Q số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001456 ngày 04/03/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Q phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001006 ngày 05/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thế Hồng |
Bản án số 433/2024/DS-PT ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hụi
- Số bản án: 433/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Q. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 135/2024/DS-ST ngày 05/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre
