Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 433/2024/DS-PT

Ngày: 09/8/2024

V/v Tranh chấp đòi tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Hiền

Các Thẩm phán:

Bà Lê Thị Mỹ Nhung

Bà Mai Thị Mỹ Tiên

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Nguyễn Phương Ngân

Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Trần Thị

Kim Nghĩa – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 07/8/2024, ngày 09/8/2024 tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã mở phiên tòa xét xử công khai đối với vụ án dân sự phúc thẩm đã thụ lý số 491/2024/TLPT-DS ngày 12/6/2024 về việc “Tranh chấp đòi tài sản"

Do bản án dân sự sơ thẩm số 113/2024/DS-ST ngày 03 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3455/2024/QĐPT-DS ngày 24 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 10306/2024/QĐ-PT ngày 17 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lê Sĩ Đ – sinh năm 1957

Địa chỉ: Số A P, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn K – sinh năm 1959 (có mặt)

Địa chỉ: Số A N, ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo Giấy ủy quyền số 009614 ngày 17/12/2021 tại Văn phòng C.

- Bị đơn: Ông Đỗ Văn L – sinh năm 1976

Địa chỉ: Số F Q, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đỗ Thị T – sinh năm 1961 (có mặt)

Theo Giấy ủy quyền số 000515 ngày 14/01/2022 tại Văn phòng C1.

Địa chỉ: Số A L, Phường G, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Công ty TNHH C2

Địa chỉ: Số A C, Phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn K – sinh năm 1959 (có mặt)

Địa chỉ: Số A N, ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo Giấy ủy quyền ngày 06/5/2023.

2. Công ty TNHH S

Địa chỉ: Số D T, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đỗ Thị T – sinh năm 1961 (có mặt)

Theo Giấy ủy quyền ngày 25/4/2023.

Địa chỉ: Số A L, Phường G, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người kháng cáo: Công ty TNHH S.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 14/12/2021 và các biên bản làm việc tại Tòa án, nguyên đơn ông Lê Sĩ Đ, người đại diện theo ủy quyền ông Lê Văn K thống nhất trình bày:

Ngày 08/3/2019, Công ty TNHH C2 (sau đây gọi tắt là Công ty C2) do ông Lê Sĩ Đ là người đại diện theo pháp luật và Công ty TNHH S (sau đây gọi tắt là Công ty S) do ông Đỗ Văn L là người đại diện theo pháp luật có ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa số 478, tờ bản đồ số 14, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. Đôi bên thỏa thuận giá mua bán thực tế là 26.000.000.000 đồng. Bên mua Công ty S đã thanh toán 16.000.000.000 đồng. Phần đất chuyển nhượng đã được bên mua hoàn tất thủ tục đăng ký thay đổi chủ sử dụng đất sang tên Công ty S.

Ngày 08/5/2019, cá nhân ông Lê Sĩ Đ và ông Đỗ Văn L lập “Biên bản thỏa thuận, V/v: trả nợ tiền mua đất còn lại” với nội dung: Nguyên đơn và bị đơn xác nhận đã giao kết xong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa số 478, tờ bản đồ số 14, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. Bị đơn xác nhận còn nợ nguyên đơn 10.000.000.000 đồng và cam kết phương án trả nợ cụ thể theo từng kỳ thanh toán. Sau khi lập văn bản thỏa thuận, bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán, chỉ trả nợ được 4.403.750.000 đồng. Bị đơn dùng tài khoản cá nhân chuyển khoản số tiền 4.403.750.000 đồng vào tài khoản cá nhân của nguyên đơn.

Mặc dù, số nợ 10.000.000.000 đồng là khoản nợ giữa Công ty C2 và Công ty S, phát sinh trong giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Do hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã hoàn thành nên Công ty C2 và Công ty S đã chuyển số nợ trên sang cá nhân nguyên đơn và bị đơn bằn văn bản đối chiếu nợ ngày 08/5/2019. Tiếp sau đó, ông L với tư cách cá nhân thanh toán cho ông Đ số tiền 4.403.750.000 đồng. Như vậy, nghĩa vụ trả nợ thuộc về cá nhân ông L. Để bảo vệ quyền lợi, nguyên đơn yêu cầu cá nhân bị đơn phải thanh toán số nợ: 7.933.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 14/3/2022 (ngày xét xử sơ thẩm lần 1) đến ngày xét xử vụ án với lãi suất 2%/tháng. Nguyên đơn không có yêu cầu đối với Công ty S trong vụ án này.

Bị đơn ông Đỗ Văn L, người đại diện theo ủy quyền bà Đỗ Thị T thống nhất trình bày:

Ngày 08/3/2019, Công ty C2 do ông Lê Sĩ Đ là người đại diện theo pháp luật và Công ty S do ông Đỗ Văn L là người đại diện theo pháp luật có ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa số 478, tờ bản đồ số 14, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An, giá mua bán thực tế là 26.000.000.000 đồng. Đôi bên thỏa thuận, Công ty S thanh toán tiền mua đất 16.000.000.000 đồng và còn nợ lại 10.000.000.000 đồng.

Ngày 08/5/2019, ông Lê Sĩ Đ là người đại diện pháp luật của Công ty C2 và ông Đỗ Văn L là người đại diện pháp luật của công ty S có lập “Biên bản thỏa thuận, V/v: trả nợ tiền mua đất còn lại” xác định tổng số nợ giữa 02 công ty phát sinh từ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa số 478, tờ bản đồ số 14, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. Để tránh nghĩa vụ nộp thuế chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ông L đã dùng tài khoản cá nhân chuyển tiền vào tài khoản cá nhân của ông Đ để thanh toán số nợ, tổng cộng là 4.403.750.000 đồng.

Bị đơn xác nhận không có việc chuyển trách nhiệm trả nợ từ Công ty S sang trách nhiệm cá nhân bị đơn. Vì vậy, “ Biên bản thỏa thuận, V/v: trả nợ tiền mua đất còn lại” ngày 8/5/2019 vô hiệu. Bị đơn không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH C2 do người đại diện theo ủy quyền ông Lê Văn K trình bày:

Thống nhất với phần trình bày của nguyên đơn.

Công ty C2 xác định đã chuyển giao nghĩa vụ thanh toán số nợ 10.000.000.000 đồng phát sinh từ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa số 478, tờ bản đồ số 14, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An, từ 02 công ty sang trách nhiệm giữa cá nhân nguyên đơn và bị đơn. Vì vậy, Công ty C2 không có yêu cầu đối với bị đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH S do người đại diện theo ủy quyền bà Đỗ Thị T trình bày:

Ngày 08/3/2019 tại Văn phòng C3, Công ty C2 do ông Lê Sĩ Đ là người đại diện theo pháp luật và Công ty S do ông Đỗ Văn L là người đại diện theo pháp luật có ký kết 03 văn bản công chứng liên quan đến việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa số 478, tờ bản đồ số 14, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An, cụ thể:

  1. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được công chứng viên văn phòng C4 công chứng ngày 08/03/2019, số công chứng 2228A, quyển số 03TP/CC-SCC-HĐGD (gọi là hợp đồng 2228A), với giá chuyển nhượng là 26.000.000.000 đồng.
  2. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được công chứng viên văn phòng C4 công chứng ngày 08/03/2019, số công chứng 2192A, quyển số 03TP/CC-SCC-HĐGD (gọi là hợp đồng 2192A), với giá chuyển nhượng là 5.940.000.000 đồng.
  3. Hợp đồng hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 08/3/2019 công chứng tại phòng công chứng Phạm Thị H, nội dung: Hủy bỏ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được công chứng viên văn phòng C4 công chứng ngày 08/03/2019, số công chứng 2192A, quyển số 03TP/CC-SCC-HĐGD.

Công ty C2 và Công ty S đã thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, giá mua bán thực tế là 26.000.000.000 đồng. Đôi bên thỏa thuận, Công ty S thanh toán tiền mua đất 16.000.000.000 đồng và được nợ lại 10.000.000.000 đồng. Để giảm tránh nghĩa vụ nộp thuế, ông Lê Sĩ Đ và ông Đỗ Văn L có lập “Biên bản thỏa thuận, V/v: trả nợ tiền mua đất còn lại” ngày 08/5/2019 xác nhận số nợ. Sau khi lập biên bản ngày 08/5/2019, ông L đã dùng tài khoản cá nhân chuyển tiền vào tài khoản cá nhân của ông Đ để thanh toán số nợ, tổng cộng là 4.403.750.000 đồng.

Công ty S xác định không chuyển giao số nợ và nghĩa vụ trả nợ như nguyên đơn và Công ty C2 trình bày. Số nợ hiện nay còn lại là 5.596.250.000 đồng, Công ty S đồng ý trả cho Công ty C2. Do việc kinh doanh hiện nay khó khăn nên Công ty S chưa ấn định được thời hạn trả. Đôi bên không thỏa thuận về việc tính lãi nên Công ty S không đồng ý trả lãi cho Công ty C2.

* Tại bản án số 113/2024/DS-ST ngày 03 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử:

Căn cứ khoản 2, khoản 9 Điều 26, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 203, khoản 2 Điều 229, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 357, Điều 365, Điều 370 Bộ luật Dân sự 2015;

Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Sĩ Đ: Buộc bị đơn ông Đỗ Văn L phải thanh toán cho nguyên đơn ông Lê Sĩ Đ1 số tiền nợ gốc là: 5.596.250.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 04/03/2024: 3.836.021.472 đồng, tổng cộng là 9.432.271.472 đồng. Bị đơn phải thanh toán làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
  2. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  3. Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 117.432.271 đồng
  4. Nguyên đơn là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí sơ thẩm theo quy định của điểm a Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

- Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo và thi hành án của các đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH S có Đơn kháng cáo đề ngày 12/4/2024, kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị đơn ông Đỗ Văn L và người kháng cáo là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH S cùng do bà Đỗ Thị T là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đây là nợ pháp nhân, không phải nợ cá nhân nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, sửa toàn bộ bản án sơ thẩm.

- Nguyên đơn ông Lê Sĩ Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH C2 cùng do ông Lê Văn K là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Đề nghị hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

Những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm đã tuân thủ theo các quy định của pháp luật.

Về hình thức đơn kháng cáo trong hạn luật định nên hợp lệ.

Về nội dung vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên toàn bộ bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH S trong hạn luật định, nộp án phí dân sự phúc thẩm theo quy định nên hợp lệ, được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét bản chính Biên bản thỏa thuận ngày 08/5/2019 v/v trả nợ tiền mua đất còn lại (sau đây gọi tắt là Biên bản ngày 08/5/2019) do ông Lê Văn K xuất trình tại phiên tòa phúc thẩm, được giao kết bởi ông Lê Sĩ Đ và ông Đỗ Văn L là những chủ thể có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, không bị ép buộc. Nội dung: “Sau khi hai bên đã giao kết xong hợp đồng mua bán tài sản: Đất cụm công nghiệp với quyền sử dụng đất số CK 310910 tại vị trí: Thửa đất số 478 – Tờ bản đồ số: 14 – Địa chỉ: Xã M, huyện Đ, tỉnh Long An... đến ngày hôm nay Bên B còn nợ lại Bên A: 10.000.000.000 đồng...lãi suất 1%/tháng...", bà Đỗ Thị T thừa nhận biên bản thỏa thuận trên, xác định số nợ còn lại là 10.000.000.000 đồng tuy nhiên bà T cho rằng đây là nợ pháp nhân, không phải nợ cá nhân ông Đỗ Văn L.

[2.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Lê Văn K xác định yêu cầu khởi kiện đòi cá nhân ông Đỗ Văn L số nợ còn lại. Bà Đỗ Thị T không đồng ý và trình bày có Đơn phản bác tuy nhiên đó không phải là yêu cầu phản tố hay yêu cầu độc lập như theo quy định pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy, phần ký tên Biên bản ngày 08/5/2019, ông Lê Sĩ Đ và ông Đỗ Văn L ký tên cá nhân, không đóng dấu doanh nghiệp. Như vậy, có đủ cơ sở xác định chủ thể ký kết Biên bản ngày 8/5/2019 là cá nhân ông Lê Sĩ Đ và ông Đỗ Văn L. Bên cạnh đó, các đương sự thừa nhận về quá trình thực hiện ông Đỗ Văn L đã dùng tài khoản cá nhân để thanh toán một phần số nợ là 4.403.750.000 đồng vào tài khoản cá nhân của ông Lê Sĩ Đ, bà T trình bày đây là do để trốn thuế tuy nhiên không xuất trình được chứng cứ chứng minh hay văn bản thỏa thuận nào khác về việc này do đó căn cứ khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”.

[2.3] Căn cứ Điều 365, Điều 370 Bộ luật dân sự 2015 hội đồng xét xử xác định việc chuyển giao quyền yêu cầu và chuyển giao nghĩa vụ là hợp pháp. Vì vậy, Biên bản ngày 08/5/2019 có hiệu lực pháp luật, cá nhân ông Đỗ Văn L phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ông Lê Sĩ Đ đúng như cam kết, việc tòa án cấp sơ thẩm áp dụng lãi suất 10%/năm là có lợi cho bị đơn nên có cơ sở chấp nhận, như vậy để bảo đảm quyền và lợi ích hợp của nguyên đơn, cần buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ gốc là: 5.596.250.000 đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 04/03/2024 là 3.836.021.472 đồng, tổng cộng là 9.432.271.472 đồng, thanh toán làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

[2.4] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử có căn cứ không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Các đương sự khác trong vụ án không kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không kháng nghị, do đó căn cứ quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số 113/2024/DS-ST ngày 03 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh không bị kháng cáo, kháng nghị nên vẫn giữ nguyên.

[2.5] Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định của pháp luật, bị đơn ông Đỗ Văn L phải chịu án phí đối với ph ần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Sĩ Đ được chấp nhận.

Án phí dân sự phúc thẩm: Theo quy định của pháp luật, do giữ nguyên bản án sơ thẩm nên người kháng cáo là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH S phải chịu án phí.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Điều 26, Điều 147, Điều 148, Điều 293; Điều 296; Điều 306, khoản 1 Điều 308, Điều 313, Điều 315 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 357, Điều 365, Điều 370 Bộ luật Dân sự 2015;

Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Về hình thức: Đơn kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH S trong hạn luật định được chấp nhận.

Về nội dung: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH S. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 113/2024/DS-ST ngày 03 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Sĩ Đ: Buộc bị đơn ông Đỗ Văn L phải thanh toán cho nguyên đơn ông Lê Sĩ Đ số tiền nợ gốc là: 5.596.250.000 đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 04/03/2024: 3.836.021.472 đồng, tổng cộng là 9.432.271.472 đồng. Bị đơn phải thanh toán làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
  2. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  3. Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Đỗ Văn L phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 117.432.271 đồng
  4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH S phải nộp là 300.000 đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã tạm nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0013439 ngày 22/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Công ty TNHH S đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

Các đương sự thi hành tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao tại TP.HCM;
  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - TAND quận Gò Vấp, TP.HCM;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - Chi cục THADS quận Gò Vấp, TP.HCM;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Văn Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 433/2024/DS-PT ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi tài sản

  • Số bản án: 433/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Sĩ Đ - Đỗ Văn L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger