Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 432/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30-9-2024

V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thành Thị Thu Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Hoàng Thị Mai.
  • 2. Bà Vương Thị Khánh Loan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa - tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1301/2024/TLST-HNGĐ ngày 22/5/2024, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 330/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 434/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trương Thị T, Sinh năm: 1988

Địa chỉ thường trú: khóm D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Địa chỉ hiện nay: tổ H, khu phố M, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Ông Vũ Đình T1, sinh năm 1983.

Địa chỉ: tổ H, khu phố M, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Bà T có đơn xin vắng mặt, ông T1 vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Trương Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Vũ Đình T1 tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 101, quyển số 01/2007, ngày 01 tháng 11 năm 2007.

Thời gian đầu chúng tôi chung sống bình thường, đến khoảng 2022 vợ chồng tôi thường phát sinh mâu thuẫn về lối sống, quan điểm sống, cách nuôi dạy con cái và nhiều mâu thuẫn khác. Đồng thời chúng tôi cũng không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, tình cảm vợ chồng đến nay không còn. Nay, tôi nhận thấy tình trạng hôn nhân ngày càng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Đến nay, tôi nhận thấy tình trạng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, hôn nhân lâm vào bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Tôi đã không còn tình cảm với ông T1 nên tôi đề nghị Tòa án cho ly hôn với ông Vũ Đình T1.

Về con chung: Tôi và ông T1 có 02 con chung là Vũ Đình K, sinh ngày 02/9/2008 và Vũ Đình Gia P, sinh ngày 25/5/2015. Ly hôn tôi yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Vũ Đình T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, không có bản tự khai nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông T1.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

Về thủ tục tố tụng: Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, kể từ khi thụ lý vụ án là phù hợp, đúng với quy định của pháp luật. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Xét cuộc sống vợ chồng của bà T, ông T1 không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà T yêu cầu ly hôn với ông T1 là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

- Về con chung: Bà T và ông T1 có 02 con chung là Vũ Đình K, sinh ngày 02/9/2008 và Vũ Đình Gia P, sinh ngày 25/5/2015. Giao 02 con cho bà T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời ông T1 không cấp dưỡng nuôi con.

2

- Về tài sản chung, nợ chung: Do chưa có lời khai của ông T1 nên tách ra giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác nếu sau này các bên có yêu cầu.

- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà T phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự: Bà Trương Thị T yêu cầu được ly hôn với ông Vũ Đình T1 và giải quyết vấn đề con chung. Căn cứ vào Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”; Bà Trương Thị T là nguyên đơn, ông Vũ Đình T1 là bị đơn.

[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Trương Thị T nộp đơn yêu cầu giải quyết ly hôn với ông Vũ Đình T1 có đang sinh sống tại địa chỉ tổ H, khu phố M, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

[3] Về thủ tục tố tụng: Bà Trương Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Vũ Đình T1 đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà T, ông T1 theo quy định tại Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị T và ông Vũ Đình T1 tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 101, quyển số 01/2007, ngày 01 tháng 11 năm 2007 nên áp dụng Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 xác định là hôn nhân hợp pháp. Theo bà T, quá trình chung sống khoảng năm 2022 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp, bất đồng quan điểm, không có hạnh phúc. Hai vợ chồng đã hoà giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Nay bà nhận thấy tình trạng hôn nhân lâm vào bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Bà không còn tình cảm với ông T1 nên đề nghị Tòa án cho ly hôn với ông Vũ Đình T1.

Tòa án đã nhiều lần tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập ông T1 đến Tòa làm việc nhưng ông T1 vẫn vắng mặt không lý do, không có ý kiến phản hồi thể hiện việc ông T1 không tích cực trong việc hòa giải, hàn gắn quan hệ vợ chồng, không thiết tha cuộc sống hôn nhân với bà T. Qua kết quả xác minh tại nơi cư trú

3

ngày 09/7/2024 thì địa phương không nắm được mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông T1 do không trình báo.

Từ đó cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng bà T và ông T1 là có thật, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T, giải quyết cho bà T được ly hôn với ông T1 để trả tự do cả hai là phù hợp.

[5] Về con chung: Bà T và ông T1 có 02 con chung là Vũ Đình K, sinh ngày 02/9/2008 và Vũ Đình Gia P, sinh ngày 25/5/2015. Bà T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục con chung, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, ông T1 không đến Tòa làm việc nên không ghi nhận được ý kiến. Hiện nay, bà T đang nghề may mặc tự do, thu nhập bình quân 10.000.000đ/tháng nên đủ điều kiện và khả năng để nuôi con. Các con đều có nguyện vọng được ở cùng mẹ nên Hội đồng xét xử quyết định giao cháu K và cháu P cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Tạm thời, ông T1 không cấp dưỡng nuôi con.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Do chưa có lời khai của ông T1 nên tách ra giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác nếu sau này các đương sự có yêu cầu.

[7] Về án phí: Bà T phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

[8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 203, Điều 220, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị T. Bà Trương Thị T được ly hôn với ông Vũ Đình T1.

2. Về con chung: Giao 02 con chung là Vũ Đình K, sinh ngày 02/9/2008 và Vũ Đình Gia P, sinh ngày 25/5/2015 cho bà Trương Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Tạm thời ông Vũ Đình T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.

4

Ông T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Bà Trương Thị T phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0003747 ngày 14/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKS ND tỉnh Đồng Nai;
  • - T.H.A dân sự TP. Biên Hoà;
  • - VKS TP Biên Hoà;
  • - Các đương sự.
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn
  • - Lưu HS, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa




Thành Thị Thu Trang

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

5

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 432/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 432/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger