|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 432/2024/HS-ST Ngày: 28 – 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Văn Phước
- Bà Nguyễn Hương Thủy
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Ông Lê Thanh Đức – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 421/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 490/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Đỗ Hoàng P, sinh năm: 1998, tại Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: Số A, Đường số A, Khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: G, Đường số F, Khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên Chúa; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Không có; con ông Đỗ Thành Đ, sinh năm 1972 và bà Phạm Thị H, sinh năm 1971; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; có 02 người con, cùng sinh năm 2018;
Tiền sự: Không;
Tiền án: 02 tiền án:
- Ngày 21/5/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 04 năm tù giam về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành án phạt tù xong ngày 30/6/2022. Chấp hành xong thi hành án dân sự ngày 03/7/2020.
- Ngày 22/02/2023 bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” (trị giá tài sản chiếm đoạt là 6.133.000 đồng), chấp hành án phạt tù xong ngày 14/7/2023. Chấp hành xong án phí ngày 11/4/2023.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 15/12/2023 cho đến nay - Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 15/12/2023, Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về Ma túy Công an thành phố T tuần tra đến đầu hẻm G, Đường số F, phường T, thành phố T thì phát hiện Đỗ Hoàng P (Sinh năm: 1998) đang điều khiển xe môtô biển số: 59X1-613.04 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện trong túi quần bên phải phía sau P đang mặc có 02 gói nylon chứa tinh thể không màu. P khai nhận là ma túy đá P mua về để sử dụng nên tổ tuần tra tiến hành thu giữ toàn bộ tang vật và đưa P về trụ sở Công an phường T để tiếp tục điều tra làm rõ.
Quá trình điều tra, Đỗ Hoàng P khai nhận: Từ đầu tháng 12/2023, P bắt đầu bán ma túy cho người nghiện để kiếm tiền tiêu xài. Ngày 14/12/2023, P vào trang mạng facebook có tên “Hội Đồng P1” để tìm mua ma túy với số tiền 3.000.000 đồng, sau đó có 01 nam thanh niên tên N (không rõ lai lịch) liên lạc cho P thông qua ứng dụng Messenger và hẹn giao dịch ma túy tại dưới chân cầu vượt B, phường H, thành phố T. Khi đến điểm hẹn, P gặp 01 nam thanh niên mặc áo G điều khiển xe máy (không rõ biển số) đứng sẵn tại đây, P đưa 3.000.000 đồng tiền mặt cho nam thanh niên trên sau đó nhận 01 hộp giấy bên trong có 01 gói ma túy đá và 01 cân điện tử rồi P đem số ma túy và cân điện tử về cất giấu tại nhà. Khoảng 12 giờ ngày 15/12/2023 P lấy gói ma túy trên phân ra thành 02 gói nhỏ cất vào túi quần bên phải phía sau P mặc rồi đi công việc, khi P điều khiển xe môtô biển số 59X1-613.04 đi ra đến đầu hẻm thì bị Công an bắt quả tang như trên. Kết quả xét nghiệm ma túy đối với Đỗ Hoàng P: Âm tính.
Vật chứng thu giữ: 02 gói nylon chứa tinh thể không màu, 01 xe môtô biển số 59X1-61304, 01 điện thọai di động hiệu Iphone màu tím; số thuê bao: 0767190675.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đỗ Hoàng P tại địa chỉ G, Đường số F, Khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thu giữ trên la phông nhà vệ sinh có: 01 gói nylon bên trong có 02 gói nylon chứa tinh thể không màu, 25 gói nylon rỗng bên trong không chứa gì, 01 túi da màu đen chứa 01 cân điện tử màu xám và 01 đoạn ống hút nhựa cắt nhọn một đầu.
Theo Kết luận giám định số 44/KL-KTHS ngày 22/12/2023 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận:
- Gói 01: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m1 cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 2,5764g, loại Methamphetamine.
- Gói 02: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m2 cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 6,9150g, loại Methamphetamine.
Mẫu vật còn lại sau khi sử dụng phục vụ giám định được niêm phong có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra gồm:
- Gói 01: Tinh thể không màu (m1) có tổng khối lượng 2,3810g.
- Gói 02: Tinh thể không màu (m2) có tổng khối lượng 6,5478g.
* Quá trình khám xét nhà P có 03 đối tượng liên hệ Phi tìm mua ma túy, Công an phường T đã mời về trụ sở làm việc như sau:
- Đào Xuân B (Sinh năm: 1994): Bách bắt đầu sử dụng ma túy đá từ khoảng đầu năm 2021 đến nay. B đã mua ma túy của P được tổng cộng 3 lần. Lần đầu là vào ngày 01/12/2023 (không nhớ rõ thời gian cụ thể); lần thứ hai là vào ngày 12/12/2023 (không nhớ rõ thời gian). Lần thứ 3 là vào ngày 15/12/2023, B đã liên lạc với P nhưng chưa kịp mua thì bị Công an kiểm tra mời về làm việc. Mỗi lần B mua của P 01 gói ma túy đá với giá 200.000 đồng và đều chuyển qua tài khoản MoMo tên Đỗ Hoàng P. Khi cần mua ma túy để sử dụng thì B gọi vào số điện thoại 0767.190.xxx của P hoặc liên lạc qua Zalo của P có tài khoản tên “BO”. Sau đó chuyển khoản qua tài khoản Momo của P và P tới địa điểm do B hẹn sẵn rồi giao ma túy cho B. Kết quả xét nghiệm nhanh với chất ma túy đối với Đào Xuân B cho kết quả: dương tính (MET; AMP).
- Vũ Nguyễn Hồng P2 (sinh năm: 1997): P2 bắt đầu sử dụng ma túy đá từ đầu năm 2021 đến nay nhưng không thường xuyên. Khi cần mua ma túy đá để sử dụng thì P2 liên lạc qua điện thoại cho P số điện thoại 0767.190.xxx để hỏi mua ma túy và đăng nhập vào ứng dụng Momo chuyển khoản tiền qua tài khoản ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 (T2) tên tài khoản “DO HOANG PHÍ” số tài khoản 19071435658011. Sau đó P chạy qua nhà P2 rồi quăng ma túy đá tại đầu hẻm rồi P gọi điện thoại chỉ chỗ và đặc điểm gói ma túy cho P2 ra lấy. P2 khai mua ma túy của P được 06 lần; 05 lần trước P2 mua 01 gói ma túy đá với giá 250.000 đồng. Lần gần nhất P2 mua ma túy của P là vào ngày 14/12/2023 với giá 250.000 đồng; lần thứ 6 chưa kịp mua thì bị bắt, những lần còn lại P2 không nhớ rõ thời gian cụ thể, chính xác. Kết quả xét nghiệm nhanh với chất ma túy đối với P2 cho kết quả dương tính (MET; MDMA).
- Lê Văn T (sinh năm: 1998): Tưởng bắt đầu sử dụng ma túy đá từ đầu tháng 11/2023 đến nay. Tưởng đã mua ma túy của P được tổng cộng 2 lần. Lần đầu là vào ngày 09/12/2023 với giá 300.000 đồng/01 gói ma túy đá. Lần thứ 2 là vào ngày 15/12/2023 với giá 300.000 đồng nhưng chưa kịp mua thì bị Công an kiểm tra mời làm việc. Mỗi lần cần mua ma túy thì Tưởng liên lạc qua mạng xã hội Z cho P tên tài khoản là “BO” và gửi vị trí cho P để P đem ma túy tới giao. Tưởng chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 (T2) tên tài khoản “DO HOANG PHÍ” số tài khoản 19071435658011 sau đó P tới giao ma túy cho T. Kết quả xét nghiệm nhanh chất ma túy đối với Tưởng kết quả âm tính.
* Quá trình truy xét đối tượng bán ma túy cho Đỗ Hoàng P: Qua kiểm tra điện thoại di động của P nhận thấy P đã xóa tin nhắn sau khi mua, bán ma tuý nên không có thông tin gì về người bán và người mua ma túy.
Vật chứng vụ án:
- 02 gói niêm phong ghi vụ số 44 (32/24) có chữ ký của GĐV Nguyễn Xuân S và Nguyễn Thị Phương M - Cán bộ Công an T bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu tím; số thuê bao: 0767190675.
- 25 gói nylon rỗng bên trong không chứa gì.
- 01 túi da màu đen chứa 01 cân điện tử màu xám và 01 đoạn ống hút nhựa cắt nhọn một đầu.
- 01 xe môtô hiệu Honda AirBalde màu đen biển số 59X1-61304. Qua xác minh, xe môtô trên do anh Lê Phú T1 là chủ sở hữu. Tháng 10/2023, T1 bán xe môtô cho Đỗ Thành Đ (cha của Đỗ Hoàng P). Ngày 15/12/2023, P mượn xe môtô trên đi công việc sau đó đã bị bắt, anh Đ không biết và không liên quan đến việc P sử dụng xe vào việc phạm tội.
Cáo trạng số 414/CT-VKS ngày 07/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Đỗ Hoàng P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, i, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị cáo P đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố, bị cáo thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng quy định tại điểm b, i, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Đỗ Hoàng P từ 09 (chín) năm đến 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 15/12/2023.
Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Bị cáo P không có ý kiến tranh luận, bào chữa.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để sớm có cơ hội tái hòa nhập cộng đồng, trở thành người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều đúng pháp luật.
[2] Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bản ảnh, biên bản thực nghiệm điều tra, vật chứng thu giữ... cùng các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình điều tra về hành vi, thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với cáo trạng của Viện kiểm sát nên có cơ sở xác định: Từ đầu tháng 12/2023 đến ngày 15/12/2023, Đỗ Hoàng P đã có hành vi 08 lần bán trái phép chất ma túy cho Đào Xuân B, Vũ Nguyễn Hồng P2, Lê Văn T tại địa bàn thành phố T thu lợi 1.950.000 đồng. Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 15/12/2023, tại đầu Hẻm G, Đường F, phường T, thành phố T, P bị bắt quả tang đang tàng trữ trong người 2,5764 gam Methamphetamine, ngoài ra P còn tàng trữ tại nhà P, địa chỉ G, Đường F, Khu phố D, phường T, thành phố T 6,9150 gam Methamphetamine (tổng cộng 9,4914 gam Methamphetamine) nhằm mục đích bán cho người nghiện.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, tiếp tay cho các tệ nạn xã hội ngày càng phát triển, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại của ma túy và sự nghiêm cấm của pháp luật đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhưng vì mục đích vụ lợi đã cố ý mua ma túy về bán cho người khác để kiếm lời. Hành vi của bị cáo thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt:
Khối lượng ma túy bị cáo mua bán là 9,4914gam, loại Methamphetamine và thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên, tái phạm nguy hiểm nên bị đưa ra xét xử theo quy định tại tại điểm b, i, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng: Không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng nên cần phải xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy hoàn cảnh của bị cáo khó khăn, không có thu nhập ổn định, là con duy nhất trong gia đình và có 02 con nhỏ sinh năm 2018 nên không áp dụng phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Đối với số ma túy thu giữ của bị cáo: Xét đây là chất ma túy Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy;
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu tím; số thuê bao: 0767190675, đây là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy nên đề cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước;
- Đối với 25 gói nylon rỗng bên trong không chứa gì, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy;
- Đối với 01 túi da màu đen chứa 01 cân điện tử màu xám và 01 đoạn ống hút nhựa cắt nhọn một đầu, là công cụ bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy;
- Đối với 01 xe môtô hiệu Honda AirBalde màu đen biển số 59X1-61304. Qua xác minh, xe môtô trên do anh Lê Phú T1 là chủ sở hữu. Tháng 10/2023, anh T1 bán xe môtô cho Đỗ Thành Đ (cha của Đỗ Hoàng P). Ngày 15/12/2023, P mượn xe môtô trên đi công việc sau đó đã bị bắt, anh Đ không biết và không liên quan đến việc P sử dụng xe vào việc phạm tội, do đó cần trả lại cho anh Đỗ Thành Đ.
[7] Về tiền thu lợi bất chính: Tổng số tiền bị cáo đã thu lợi bất chính là 1.950.000 đồng nên buộc bị cáo nộp lại số tiền này để sung vào ngân sách nhà nước.
[8] Đối với Đào Xuân B, Vũ Nguyễn Hồng P2, Lê Văn T là người nghiện ma túy từ bị cáo, Hồng P2 và Xuân Bách dương tính với ma túy, Cơ quan điều tra đã giao cho Công an phường T xử lý vi phạm hành chính.
Đối với người thanh niên tên “Nam” đã bán ma túy cho P, do không có số điện thoại, tài khoản ngân hàng và không biết là ai nên không xử lý là có cơ sở.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo đúng quy định.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Hoàng P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Căn cứ điểm b, i, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- Xử phạt bị cáo Đỗ Hoàng P 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 15/12/2023.
- Về tiền thu lợi bất chính: Buộc bị cáo Đỗ Hoàng P nộp số tiền 1.950.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy 02 gói niêm phong ghi vụ số 44 (32/24) có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Xuân S và Nguyễn Thị Phương M - Cán bộ Công an thành phố T bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định; 25 gói nylon rỗng bên trong không chứa gì; 01 túi da màu đen chứa 01 cân điện tử màu xám và 01 đoạn ống hút nhựa cắt nhọn một đầu;
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu tím; số thuê bao: 0767190675;
- Trả lại cho ông Đỗ Thành Đ 01 xe môtô hiệu Honda AirBalde màu đen biển số 59X1-61304.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 328/QĐ-VKS ngày 11/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và Phiếu nhập kho số NK24/377C ngày 19/7/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức).
- Về án phí: Căn cứ Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội:
Bị cáo Đỗ Hoàng P phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Hiếu |
Bản án số 432/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 432/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Hoàng P mua bán trái phép chất ma túy
