Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 432/2024/DS-PT

Ngày: 23 - 10 – 2024

V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Cao Khánh.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Lập;

Ông Dương Hùng Quang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Nhi - Là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Yến - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 22 và 23 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 312/2024/TLPT-DS ngày 29 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 156a/2024/DSST ngày 24 tháng 07 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 357/2024/QĐ-PT ngày 10 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Ông Võ Hoàng B, sinh năm 1983;
  2. Bà Nguyễn Hạnh K, sinh năm 1988.

Cùng cư trú tại: Ấp V, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn:

  1. Ông Huỳnh Minh Đ, sinh năm 1989;
  2. Bà Huỳnh Thảo D, sinh năm 1990.

Cùng cư trú tại: Ấp C, xã N, huyện P, tỉnh Cà Mau.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau;

Người đại diện theo ủy quyền của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân: Ông Lê Minh Q; Cư trú tại: Ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau.

  1. Ông Nguyễn Việt S, sinh năm 1977; Cư trú tại: Khóm A, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau.

Người kháng cáo: Ông Võ Hoàng B – Nguyên đơn.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 21 tháng 9 năm 2022, ông Võ Hoàng B và bà Nguyễn Hạnh K có nhận chuyển nhượng của ông Huỳnh Minh Đ và bà Huỳnh Thảo D một phần đất có diện tích 1.039,8m², thuộc một phần thửa đất số 116, tờ bản đồ số 3 tọa lạc tại ấp C, xã N, huyện P, tỉnh Cà Mau. Việc chuyển nhượng được Ủy ban nhân dân xã N chứng thực số 161 quyển số 01/2022-SCT-HĐ, GĐ ngày 21 tháng 9 năm 2022, giá chuyển nhượng ghi trong hợp đồng là 200.000.000 đồng nhưng thực chất đôi bên thỏa thuận giá là 1.000.000.000 đồng. Ông bà đã thanh toán cho ông Huỳnh Minh Đ và bà Huỳnh Thảo D 605.000.000 đồng (ngày 22/6/2022 trả 200.000.000 đồng; ngày 05 tháng 8 năm 2022 trả 255.000.000 đồng; ngày 05/8/2022 trả 150.000.000 đồng). Sau khi nhận chuyển nhượng, ông B, bà K tiến hành đăng bộ, sang tên thì Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện P có văn bản trả lời không đăng bộ sang tên được với lý do Tòa án nhân dân huyện Phú Tân đã ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời bằng hình thức phong tỏa tài sản. Sau khi biết được việc đất mình mua đã bị phong tỏa nên ngày 03 tháng 11 năm 2022 ông B, bà K có làm đơn yêu cầu giải quyết việc phong Tỏa đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân. Ông B, bà K xác định việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông bà với ông Huỳnh Minh Đ và bà Huỳnh Thảo D là hợp pháp và diễn ra vào ngày 21 tháng 9 năm 2022 trước khi Tòa án ra quyết định phong tỏa 05 ngày (Tòa án ra quyết định phong tỏa ngày 26/9/2022).

Ngày 03/11/2022, Thi hành án dân sự huyện P đã ra quyết định giao tài sản là toàn bộ phần đất có diện tích 20.119m², thuộc thửa số 116, tờ bản đồ số 3 tạo lạc tại ấp C, xã N, huyện P, tỉnh Cà Mau thuộc quyền sở hữu của vợ chồng ông Huỳnh Minh Đ và bà Huỳnh Thảo D cho ông Nguyễn Việt S là ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của ông bà vì phần đất giao cho ông Nguyễn Việt S có phần đất của ông bà đã chuyển của ông Đ, bà D. Nay ông bà yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông bà với ông Huỳnh Minh Đ và bà Huỳnh Thảo D đã được Ủy ban nhân dân xã N chứng thực số 161 quyển số 01/2022-SCT/HĐ,GD ngày 21 tháng 9 năm 2022, phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế 1.039,8m² thuộc thửa số 116, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại ấp C, xã N, huyện P, tỉnh Cà Mau .

Nếu Toà án không công nhận hợp đồng thì ông B, bà K yêu cầu ông Đ bà D trả số tiền 605.000.000 đồng.

- Quá trình giải quyết vụ án bà Huỳnh Thảo D, ông Huỳnh Minh Đ thống nhất trình bày:

Ông Đ, bà D thừa nhận có chuyển nhượng phần đất diện tích 1.039 m², trong thửa đất số 116, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại ấp C, xã N, huyện P cho ông Võ Hoàng B, bà Nguyễn Hạnh K vào ngày 22 tháng 6 năm 2022, giá chuyển nhượng 1.000.000.000 đồng; ông B, bà K đã thanh toán được 200.000.000 đồng vào ngày 22 tháng 6 năm 2022. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chứng thực. Các bên đã tiến hành làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất theo quy định. Sau khi ông B, bà K gửi hồ sơ đến Văn phòng đăng ký đất đai thì Văn phòng đăng ký đất đai trả lời không thực hiện được do phần đất có quyết định áp dụng biện pháp tạm thời bằng hình thức phong tỏa tài sản. Hiện tại phần đất đã giao cho cơ quan thi hành án để thi hành khoảng nợ cho ông Nguyễn Việt S số tiền 1.730.000.000 đồng. Việc ông Đ, bà D thỏa thuận với ông S giao phần tài sản là đất cho ông S là do ông S hứa trừ hết phần nợ là 1.730.000.000 đồng nên vợ chồng ông Đ, bà D đồng ý thỏa thuận giao tài sản.

Ông Đ, bà D yêu cầu Tòa án xem xét hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập ngày 21 tháng 9 năm 2022, đồng ý trả lại số tiền đã nhận là 200.000.000 đồng. Đối với biên nhận 150.000.000 đồng là tiền vay, không phải tiền bán đất nên ông Đ, bà D không đồng ý trả cho ông B, bà K trong vụ án này. Đối với biên nhận 255.000.000 đồng ông Đ, bà D không biết và không thừa nhận có ký tên vào biên nhận.

Ngoài ra, đôi bên còn ký các hợp đồng:

  • Hợp đồng chuyển nhượng xác lập lúc 13 giờ ngày 22/6/2022 giữa vợ chồng ông, bà với ông Võ Hoàng B, bà Nguyễn Hạnh K. Theo hợp đồng chuyển nhượng phía ông Đ, bà D chuyển nhượng cho ông B phần đất có diện tích 500m² (Loại đất ONT) giá 650.000.000 đồng. Ông, bà hiện đang giữ bản photo.
  • Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác lập lúc 13 giờ ngày 22/6/2022. Theo hợp đồng phía ông Đ, bà D chuyển nhượng cho ông B phần đất có diện tích 1.000m² với giá 1.000.000.000 đồng. Ký kết tại Ủy ban nhân dân xã N.

Ông Đ và bà D cũng yêu cầu hủy 02 hợp đồng nêu trên.

- Tại đơn yêu cầu độc lập ngày 19/12/2022, ông Nguyễn Việt S trình bày:

Do vợ chồng ông Huỳnh Minh Đ và bà Huỳnh Thảo D có nợ ông số tiền 1.730.000.000 đồng, ông khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết cho ông và yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo đảm số tiền ông Đ, bà D còn nợ ông. Ngày 26 tháng 9 năm 2022, Tòa án ra quyết định số 07/2022/QĐ-BPKCTT về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; Ngày 07 tháng 10 năm 2022, Tòa án nhân dân huyện Phú Tân ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 408/2022/QĐST-DS. Sau khi Tòa án ban hành quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự ông yêu cầu thi hành án. Ngày 13 tháng 10 năm 2022, Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân ra quyết định số 07/QĐ-CCTHADS giao tài sản cho người được thi hành án.

Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông B, bà K với ông Đ, bà D được Ủy ban nhân dân xã N chứng thực số 161, quyển số 01/2022 SCT-HĐ,GD ngày 21 tháng 9 năm 2022 là không hợp pháp với các lý do như sau: Trước khi ông Đ, bà D ký hợp đồng chuyển nhượng đất cho ông B, bà K thì ông có đến Ủy ban nhân dân xã N ngăn cản cụ thể là ngày 12 tháng 8 năm 2022, ông có đến uỷ ban nhân dân xã để ngăn không cho chuyển nhượng; ngày 15 tháng 8 năm 2022 ông có đến ủy ban nhân dân xã N gặp ba bên bàn bạc có ủy ban nhân dân xã C. Ngày 05 tháng 9 năm 2022, ông B có điện thoại cho ông trao đổi nội dung mua bán của ông B với ông Đ, bà D, ông không đồng ý, ông B nói "sao thấy lẹo tạo lu bu quá, bây giờ em không sang nữa, em lấy tiền cọc lại".

Từ những lý do trên, ông yêu cầu tuyên bố các hợp đồng đồng chuyển nhượng đất ngày 21 tháng 9 năm 2022 giữa ông Huỳnh Minh Đ, bà Huỳnh Thảo D với ông Võ Hoàng B, bà Nguyễn Hạnh K và các hợp đồng ký kết ngày 22 tháng 6 năm 2022 là vô hiệu

- Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông Lê Minh Q là người đại diện theo pháp luật trình bày: Chi cục Thi hành án có ra quyết định giao tài sản phần đất có diện tích 20.119m² (Trong đó có phần đất tranh chấp là 1.039,8m²) tọa lạc tại ấp C, xã N, huyện P, tỉnh Cà Mau thuộc quyền sở hữu của ông Đ, bà D cho ông Nguyễn Việt S để thi hành án. Nếu Tòa án giải quyết công nhận hợp đồng thì Thi hành án giao phần đất tranh chấp cho nguyên đơn, nếu Tòa án không công nhận hợp đồng thì giữ nguyên quyết định giao đất cho ông S.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 156a/2024/DSST ngày 24 tháng 07 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau đã quyết định (tóm tắt):

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Hoàng B và bà Nguyễn Hạnh K về việc yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác lập ngày 21 tháng 9 năm 2022 giữa ông Huỳnh Minh Đ, bà Huỳnh Thảo D với ông Võ Hoàng B, bà Nguyễn Hạnh K được Ủy ban nhân dân xã N, huyện P chứng thực số 161 quyển 01/2022-SCT/HĐ,GD.
  2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Việt S. Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác lập ngày 21 tháng 9 năm 2022 giữa ông Huỳnh Minh Đ, bà Huỳnh Thảo D với ông Võ Hoàng B, bà Nguyễn Hạnh K được Ủy ban nhân dân xã N, huyện P chứng thực số 161 quyển 01/2022-SCT/HĐ,GD vô hiệu. Tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác lập lúc 13 giờ ngày 22 tháng 6 năm 2022 giữa ông Huỳnh Minh Đ, bà Huỳnh Thảo D với ông Võ Hoàng B, bà Nguyễn Hạnh K vô hiệu.
  3. Buộc ông Huỳnh Minh Đ, bà Huỳnh Thảo D có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Võ Hoàng B và bà Nguyễn Hạnh K 605.000.000 đồng (sáu trăm lẻ năm triệu đồng).

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, trường hợp thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 07/8/2024 Tòa án nhân dân huyện Phú Tân nhận được đơn kháng cáo của ông Võ Hoàng B và bà Nguyễn Hạnh K, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm số 156a/2024/DS-ST ngày 24/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tiến hành đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự; Các đương sự chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ theo pháp luật quy định.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa Bản án sơ thẩm số 156a/2024/DSST ngày 24 tháng 07 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập ngày 21/9/2022 giữa ông Đ, bà D với ông B, bà K và buộc các bên tiếp tục thực hiện hợp đồng. Buộc ông Đ, bà D giao phần đất 1.039,8m², buộc ông B, bà K thanh toán số tiền còn lại cho ông Đ, bà D là 395.000.000 đồng.

Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Việt S về yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông B, bà K với ông Đ, bà D là vô hiệu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Xét đơn kháng cáo của ông Võ Hoàng B và bà Nguyễn Hạnh K nộp trong thời hạn quy định của pháp luật. Về tố tụng, quan hệ tranh chấp, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết đã được cấp sơ thẩm xác định và thực hiện đúng theo qui định pháp luật.

Xét yêu cầu kháng cáo của ông B và bà K, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[1] Tuy các bên xác lập nhiều hợp đồng khác nhau nhưng ông Đ, bà D vẫn trình bày thống nhất rằng giữa các bên có việc thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất phần đất có diện tích 1.039,8m², thuộc một phần thửa đất số 116, diện tích 20.119m², phần đất tọa lạc tại ấp C, xã N, huyện P, tỉnh Cà Mau đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 838820 cấp cho ông Huỳnh Minh Đ và bà Huỳnh Thảo D vào ngày 07/12/2020. Việc thỏa thuận chuyển nhượng từ tháng 6/2022, sau khi thỏa thuận việc chuyển nhượng thì hai bên cũng đã tiến hành làm các thủ tục để tách thửa đất chuyển nhượng như: Ngày 18/7/2022 ông Huỳnh Minh Đ làm Đơn yêu cầu đo đạc gửi Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P và ký hợp đồng đo vẽ chỉnh lý bản đồ địa chính phục vụ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bút lục 87, 88); Ngày 29/7/2022 Cán bộ Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P đã tiến hành vẽ trực tiếp tại thực địa để xác định ranh giới, mốc giới thửa đất phần đất của ông Huỳnh Minh Đ và bà Huỳnh Thảo D đang sử dụng tại ấp C, xã N, huyện P, tỉnh Cà Mau (bút lục 86); Ngày 02/8/2022 có Phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất, trích lục bản đồ địa chính và Mảnh đo đạc chỉnh lý thửa đất, tất cả đều thể hiện phần đất chuyển nhượng tại thửa 629, với diện tích 1039,8m² (bút lục 55, 84, 85). Sau đó, ông B và bà K cũng đã tiến hành thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không thực hiện được do ông S có yêu cầu và Tòa án nhân dân huyện Phú Tân đã ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (trong vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản mà ông S là nguyên đơn, ông Đ và bà D là bị đơn).

Từ những chứng cứ nêu trên, có căn cứ xác định ý chí của ông Đ, bà D là chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông B, bà K, phần đất diện tích 1039,8m².

[2] Về hình thức, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 21/9/2022 được giao kết trên cơ sở tự nguyện, hợp đồng được chứng thực tại UBND xã N, huyện P, UBND xã N có văn bản xác định việc chứng thực là đúng quy định.

[3] Tuy lúc ông Đ, bà D chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông B, bà K thì ông Đ, bà D đã có nợ ông S 1.730.000.000 đồng; ông Đ, bà D chỉ có tài sản duy nhất là phần đất có diện tích 20.119m² nhưng diện tích mà các bên chuyển nhượng chỉ có 1.039,8m², diện tích này chỉ gần bằng 1/20 so với tổng diện tích đất mà ông Đ, bà D đang có.

Tại Chứng thư thẩm định giá ngày 03/7/2023 của Công ty cổ phần Đ1 xác định giá trị đất là 769.600 đồng/m²; không đồng ý với kết quả này ông S đã yêu cầu định giá lại. Tại Chứng thư thẩm định giá ngày 14/12/2023 của Công ty cổ phần T1 xác định giá trị đất là 207.000 đồng/m²; nếu xác định giá trị theo Chứng thư thẩm định giá này thì phần đất này có giá trị là 4.164.633.000 đồng, nếu trừ đi diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông B, bà K 1.039,8m² thì phần diện tích đất còn lại 19.079,2m² x 207.000 đồng/m² = 3.949.394.400 đồng, vẫn đảm bảo đủ điều kiện thi hành án cho ông S.

[4] Về điều kiện tách quyền sử dụng đất: Xét thấy phần đất mà ông B, bà K nhận chuyển nhượng của ông Đ, bà D đã được đo đạc, cắm mốc và làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng dụng đất nên việc cắt phần diện tích đất 1.039,8m² trong tổng diện tích đất 20.119m² là hoàn toàn thực hiện được, vẫn đảm bảo được quyền lợi của người được thi hành án là ông S.

[5] Từ những phân tích tại mục [3] và [4] cho thấy, về nội dung, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất là thật, không phải giả tạo nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ với người thứ ba.

[6] Việc ông Đ, bà D thỏa thuận với ông S về việc giao toàn bộ phần đất 20.119m² cho ông S để đối trừ khoản nợ phải thi hành án cho ông S 1.730.000.000 đồng là chưa phù hợp, tại Văn bản thỏa thuận về việc xóa nợ ngày 25/10/2022 giữa ông S với ông Đ, bà D (bút lục 263) thể hiện hai bên thỏa thuận giá của 20.119m² đất là 1.000.000.000 đồng và đối trừ 1.000.000.000 đồng phải thi hành án, ông S sẽ xóa toàn bộ phần nợ còn lại là 730.000.000 đồng và số nợ ông Đ, bà D còn thiếu khi mua nội thất 460.000.000 đồng, tổng của hai khoản nợ được xóa đã là hơn 1.000.000.000 đồng, đây là số tiền lớn, nếu thực tế 20.119m² chỉ có giá 1.000.000.000 đồng theo như các bên thỏa thuận thì không có lý do gì ông S lại đồng ý nhận phần đất này và xóa toàn bộ phần nợ còn lại hơn 1.000.000.000 đồng cho ông Đ, bà D, điều này không hợp lý. Tại thời điểm này, ông Đ, bà D và cả ông S biết rõ việc ông Đ, bà D đã chuyển nhượng một phần diện tích đất cho ông B, bà K và ông Đ bà D cũng đã nhận tiền của ông B và bà K nhưng các bên vẫn thỏa thuận về việc nhận toàn bộ phần đất để đối trừ nợ, việc thỏa thuận này rõ ràng là nhằm trốn tránh nghĩa vụ với ông B, bà K (bởi lẽ ông Đ và bà D chỉ có duy nhất 1 phần đất diện tích 20.119m²).

[7] Từ những chứng cứ và nhận định nêu trên, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông B, bà K về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập vào ngày 21/9/2022 giữa ông B, bà K với ông Đ, bà D.

[8] Ông B, bà K xác định giá chuyển nhượng thực tế là 1.000.000.000 đồng, ghi trong hợp đồng 200.000.000 đồng nhằm mục đích giảm thuế, lời trình bày này phù hợp với thực tế nên được chấp nhận, bởi lẽ sau khi thỏa thuận việc chuyển nhượng thì ông B, bà K đã giao cho ông Đ, bà D nhiều lần với số tiền 605.000.000 đồng.

[9] Về số tiền đã thanh toán, tại hồ sơ có 03 biên nhận thể hiện ông Đ và bà D nhận tổng số tiền 605.000.000 đồng. Bản án dân sự sơ thẩm số 156/2024/DS-ST ngày 24/7/2024 đã xác định ông Đ và bà D đã nhận của ông B và bà K số tiền 605.000.000 đồng để chuyển nhượng quyền sử dụng phần đất 1.039,8m². Ông Đ và bà D không kháng cáo về số tiền đã nhận, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[10] Để tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, giá trị hợp đồng là 1.000.000.000 đồng, ông B, bà K đã thanh toán được 605.000.000 đồng, buộc ông B, bà K phải thanh toán tiếp cho ông Đ, bà D số tiền còn lại 395.000.000 đồng.

[11] Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông B và bà K, sửa Bản án sơ thẩm số 156a/2024/DSST ngày 24 tháng 07 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau theo hướng:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập ngày 21/9/2022 giữa ông Đ, bà D với ông B, bà K và buộc các bên tiếp tục thực hiện hợp đồng. Buộc ông Đ, bà D giao phần đất 1.039,8m² cho ông B và bà K; buộc ông B và bà K tiếp tục thanh toán số tiền còn lại cho ông Đ, bà D là 395.000.000 đồng.

Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông S về tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 21/9/2022 được ký kết giữa ông B, bà K với ông Đ, bà D là vô hiệu. Đối với các Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác lập lúc 13 giờ ngày 22/6/2022 giữa ông Huỳnh Minh Đ, bà Huỳnh Thảo D với ông Võ Hoàng B, bà Nguyễn Hạnh K, đây là 02 hợp đồng trong quá trình đôi bên thương lượng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, 02 hợp đồng này không được chứng thực, nên không phải là đối tượng xem xét, do đó không cần xem xét về hiệu lực của 02 hợp đồng này.

[12] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

[13] Trong quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, ông Đ và bà D có trình bày hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là giả tạo để đối trừ các khoản vay của ông Võ Văn T (bút lục 154, 141) nhưng tại phiên tòa phúc thẩm, ông Đ và bà D xác định không còn nợ ông T và ông T chỉ đánh máy dùm các Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ông T không liên quan đến vụ án.

[14] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông S nộp Công văn số 156/CCTHADS ngày 03/4/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh. Nhận thấy Công văn 156/CCTHADA chỉ để yêu cầu phối hợp trong việc thi hành án do Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh gửi Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện U và các Văn phòng công chứng, chứ không phải văn bản áp dụng biện pháp cấm chuyển dịch quyền về tài sản theo quy định của pháp luật.

[15] Về chi phí tố tụng: Tổng là 24.151.800 đồng. Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông B và bà K, không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông S nên ông Đ và bà D, ông S phải chịu chi phí tố tụng.

Chi phí đo đạc là 6.311.800 đồng, định giá lần 1 là 9.200.000 đồng, tổng là 15.511.800 đồng, ông Đ và bà D phải chịu. Do ông B đã nộp xong, nên ông Đ và bà D phải hoàn trả lại.

Chi phí thẩm định giá lần 2 là 8.640.000 đồng ông Nguyễn Việt S phải chịu, đã nộp xong.

Chi phí giám định 5.870.000 đồng ông Đ và bà D phải chịu. Do ông B đã nộp xong nên ông Đ và bà D phải hoàn trả lại.

[16] Về án phí:

- Án phí dân sự sơ thẩm:

  • Ông Huỳnh Minh Đ và bà Huỳnh Thảo D phải chịu 300.000 đồng.
  • Ông Nguyễn Việt S phải chịu 300.000 đồng.
  • Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch ông Võ Hoàng B và bà Nguyễn Hạnh K phải chịu 19.750.000 đồng.

- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Võ Hoàng B và bà Nguyễn Hạnh K không phải chịu.

[17] Các quyết định khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Chấp nhận kháng cáo của ông Võ Hoàng B và bà Nguyễn Hạnh K.

Sửa toàn bộ Bản án sơ thẩm số 156a/2024/DSST ngày 24 tháng 07 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Hoàng B và bà Nguyễn Hạnh K. Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác lập ngày 21 tháng 9 năm 2022 giữa ông Huỳnh Minh Đ, bà Huỳnh Thảo D với ông Võ Hoàng B, bà Nguyễn Hạnh K được Ủy ban nhân dân xã N, huyện P chứng thực số 161 quyển 01/2022-SCT/HĐ,GD. Buộc các bên tiếp tục thực hiện hợp đồng.
  2. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Việt S về việc yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác lập ngày 21 tháng 9 năm 2022 giữa ông Huỳnh Minh Đ, bà Huỳnh Thảo D với ông Võ Hoàng B, bà Nguyễn Hạnh K được Ủy ban nhân dân xã N, huyện P chứng thực số 161 quyển 01/2022-SCT/HĐ,GD vô hiệu.
  3. Buộc ông Huỳnh Minh Đ và bà Huỳnh Thảo D giao cho cho ông Võ Hoàng B và bà Nguyễn Hạnh K phần đất có diện tích đo đạc thực tế là 1.039,8m² tọa lạc ấp C, xã N, huyện P, tỉnh Cà Mau (theo trích đo hiện trạng ngày 30/5/2023 của Công ty TNHH P).
  4. Buộc ông Võ Hoàng B và bà Nguyễn Hạnh K tiếp tục thanh toán cho ông Huỳnh Minh Đ và bà Huỳnh Thảo D số tiền 395.000.000 đồng (ba trăm chín mươi lăm triệu đồng).
  5. Về chi phí tố tụng:

    Buộc ông Huỳnh Minh Đ và bà Huỳnh Thảo D phải hoàn trả lại chi phí đo đạc, chi phí định giá lần 1 và chi phí giám định cho ông Võ Hoàng B và bà Nguyễn Hạnh K, tổng số tiền là 21.381.800 đồng (hai mươi mốt triệu ba trăm tám mươi mốt ngàn tám trăm đồng).

    Ông Nguyễn Việt S phải chịu chi phí thẩm định giá lần 2 là 8.640.000 đồng, ông Nguyễn Việt S đã nộp xong.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, nếu chậm thi hành án thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  6. Về án phí

    - Án phí dân sự sơ thẩm:

    • Ông Huỳnh Minh Đ và bà Huỳnh Thảo D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng).
    • Ông Nguyễn Việt S phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng). Ngày 21/12/2022, ông Nguyễn Việt S đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), theo biên lai số 0018474, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, được chuyển thu.
    • Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch ông Võ Hoàng B và bà Nguyễn Hạnh K phải chịu là 19.750.000 đồng (mười chín triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng). Ngày 15/11/2022, nguyên đơn đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), theo biên lai số 0018381, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, được đối trừ, còn phải nộp tiếp số tiền là 19.450.000 đồng (mười chín triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng).

    - Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Võ Hoàng B và bà Nguyễn Hạnh K không phải chịu, ngày 07/8/2024 đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng, theo biên lai số 0003780, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, được nhận lại.

    Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  7. Các quyết định khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Lập

Đỗ Cao Khánh

Dương Hùng Quang

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân huyện Phú Tân;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Tân;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT (TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Cao Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 432/2024/DS-PT ngày 23/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 432/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/10/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị đơn cho rằng có chuyển nhượng QSD đất nhưng đã giao thi hành án để thi hành khoản nợ cho ông S nên yêu cầu hủy hợp đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger