|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 432/2024/DS-PT Ngày: 18 -6 -2024 V/v tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Hùng
Ông Hoàng Minh Thịnh
Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hiến - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 39/TLPT-DS ngày 12 tháng 01 năm 2024 về việc “tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.”
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2023/DS-ST ngày 15/6/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3176/QĐ-PT ngày 29 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Hồ Cẩm G (tên gọi khác: Hồ An H), sinh năm 1984; địa chỉ: Số nhà F, đường N, Khóm G, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Việt Q – Văn phòng luật sư Trần Đức H1 và cộng sự, địa chỉ: Khóm B, Phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).
- Bị đơn: Ông Lý Văn N, sinh năm 1966; địa chỉ: Ấp Q, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Cao Thị Túy G1 – Văn phòng L1 và Cộng sự thuộc Đoàn luật sư tỉnh B (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Hồ Quốc D, sinh năm 1954 (vắng mặt)
- Bà Lý Thị Q1 (Q3, H2), sinh năm 1956 (vắng mặt)
- Ông Lý Văn D1, sinh năm 1954; địa chỉ: Ấp I, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Ông Lý Văn H3, sinh năm 1950; địa chỉ: Ấp C, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).
- Ông Lý Văn H4, sinh năm 1953; địa chỉ: Ấp H, xã N, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
- Bà Lý Thị T, sinh năm 1955; địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).
- Ông Lý Văn S, sinh năm 1960; địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
- Bà Lý Thị Đ, sinh năm 1964; địa chỉ: Ấp M, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).
- Ông Lý Văn M, sinh năm 1966; địa chỉ: Ấp Q, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).
- Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; địa chỉ: Ấp C, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Tuấn K, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (xin xét xử vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp Q, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu;
- Người có kháng cáo: nguyên đơn bà Hồ Cẩm G (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Hồ Cẩm G trình bày:
Nguồn gốc đất tranh chấp là của ông bà ngoại bà G là cụ Lý Văn N1 và cụ Nguyễn Thị C khai phá sử dụng, sau đó tặng cho con ruột là ông Lý Văn D1 (là cậu ruột bà G), ông D1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1995. Năm 1996, ông D1 chuyển đổi quyền sử dụng đất với cha mẹ bà là ông Hồ Quốc D và bà Lý Thị Q1, khi chuyển đổi không đo đạc, không cắm trụ ranh trên thực địa, đổi đất toàn bộ trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích là 18.750m² của ông D1. Năm 1998, cha bà là ông D đăng ký, kê khai làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần đất nhận chuyển đổi từ ông D1 cho mẹ ruột bà là bà Q1 đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được cấp tại thửa số 381, tờ bản đồ số 15, với diện tích 18.750m². Khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Q1 cũng không đo đạc mà chỉ dựa vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông D1. Sau khi nhận chuyển đổi đất, gia đình bà không canh tác sử dụng mà cho ông N (cậu ruột) mượn sử dụng. Đến năm 2000, ông D có yêu cầu ông N giao trả phần đất trước đây cho mượn, ông N đồng ý trả. Tuy nhiên, ông N trả phần đất nuôi tôm phía trong còn phần đất hiện nay đang tranh chấp ông N cắm trụ đá làm ranh và ông N xác định đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ông N, tại thời điểm này ông D không có ý kiến phản đối vì theo ông D xác định đất của mình đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau này chỉ cần căn cứ vào Giấy chứng nhận là biết đất thuộc quyền sử dụng của ai, nên không tranh chấp đất với ông N. Đối với phần đất tranh chấp gia đình bà chưa lần nào canh tác, sử dụng. Năm 2016, bà được bà Q1 tặng cho phần đất trước đây nhận chuyển đổi với ông D1, bà hợp đồng đo đạc phần đất để cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng khi đo đạc ông N ngăn cản, ông N cho rằng phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ông N nên phát sinh tranh chấp.
Nay bà yêu cầu ông N giao trả phần đất qua đo đạc thực tế có tổng diện tích 4.705,6m², thuộc một phần thửa số 381, tờ bản đồ số 15, đất do bà đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tọa lạc tại ấp Q, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu.
Bị đơn ông Lý Văn N trình bày:
Nguồn gốc đất tranh chấp là của cha mẹ ruột là cụ Lý Văn N1 và cụ Nguyễn Thị C khai phá, sử dụng. Cha mẹ có cho ông Lý Văn D1 phần đất làm ruộng giáp ranh với đất tranh chấp. Đối với diện tích đất tranh chấp cha mẹ không cho ông D1 mà dùng trồng cây ăn trái, sau này làm nơi chôn cất khi qua đời. Ông D1 đăng ký, kê khai và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1995 đối với phần đất ruộng (sau này đất nuôi trồng thủy sản) cha mẹ cho. Tuy nhiên, Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông D1 bao gồm cả phần đất vườn của cha mẹ (hiện nay đang tranh chấp). Ông D1 chuyển đổi đất với bà Lý Thị Q1 (mẹ ruột bà Hồ Cẩm G), phần đất ông D1 chuyển đổi với bà Q1 cũng trong phạm vi đất được cha mẹ cho. Đất của cha mẹ với đất ông D1 có phân định ranh giới với nhau, có cắm trụ đá, hiện nay hai trụ đá vẫn còn. Đất tranh chấp ông canh tác sử dụng cùng cha mẹ từ nhỏ đến khi cha mẹ chết ông tiếp tục sử dụng đến nay; ông D1, ông D, bà Q1 và bà G chưa lần nào canh tác, sử dụng đất này. Trong phạm vi đất tranh chấp ông thuê người khoan sình vào năm 2018 lấy đất để bồi đắp mặt tiền, diện tích khoan đất khoảng 01 công (1296m²), việc khoan đất là công khai, bà Q1, bà G không ngăn cản, phản đối.
Nay bà G khởi kiện yêu cầu ông trả phần đất qua đo đạc thực tế có tổng diện tích 4.705,6m², thuộc một phần thửa số 381, tờ bản đồ số 15, do bà G đứng tên thì ông không đồng ý. Ông yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà G với diện tích 3.163,7m².
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lý Văn D1 trình bày:
Ông là anh ruột của bà Lý Thị Q1 và ông Lý Văn N. Khoảng năm 1978, cha mẹ cho ông phần đất khoảng 18.500m², tại thời điểm cho thì đất dùng làm ruộng, ông đăng ký, kê khai và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1995. Năm 1998, ông với bà Q1, ông D thỏa thuận đổi đất, phần đất ông giao cho bà Q1, ông D có vị trí là từ khu đất nền mộ trở vô trong hậu. Theo như hiện trạng hiện nay thì đất ông giao cho bà Q1 không giáp lộ, cách con lộ phần đất hiện nay đang tranh chấp. Sau khi đổi đất cho bà Q1, ông có đổ hai trụ đá để làm ranh giới đất, từ trụ đá trở vô trong hậu là đất đổi cho bà Q1, từ trụ đá trở ra hướng lộ là đất hương hỏa của cha mẹ để lại làm khu nền mộ. Bà G khởi kiện yêu cầu ông N giao trả đất qua đo đạc thực tế có diện tích 4.705,6 m², thuộc một phần thửa số 381, tờ bản đồ số 15, do bà Hồ Cẩm G đứng tên thì ông xác định diện tích đất trên không chuyển đổi với bà Q1, nên bà G khởi kiện yêu cầu ông N trả là không đúng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hồ Quốc D, bà Lý Thị Q1 thống nhất trình bày:
Nguồn gốc đất tranh chấp là của cụ Lý Văn N1 và cụ Nguyễn Thị C khai phá, sử dụng; sau đó hai cụ tặng cho ông Lý Văn D1 phần đất trồng lúa, ông D1 đăng ký, kê khai và được cấp quyền sử dụng diện tích 18.750m² tại thửa 381, tờ bản đồ số 15 (có cả diện tích đất tranh chấp). Năm 1996, ông D1 thỏa thuận chuyển đổi đất với ông, bà. Khi đổi đất ông D1 không chỉ ranh đất ngoài thực địa, hai bên cũng không đo đạc toàn bộ diện tích đất, ông D1 chỉ nói diện tích đất đổi nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên ông, bà không biết chính xác diện tích đất của ông D1 giao đến vị trí nào. Sau khi nhận chuyển đổi đất với ông D1 thì ông, bà không canh tác mà cho ông Lý Văn N mượn canh tác. Năm 2000, ông, bà nhận lại đất và canh tác cho đến nay; còn đất tranh chấp ông, bà không canh tác sử dụng từ năm 1996 đến nay. Trong khoản thời gian trên, ông N có đào đất bồi đắp nền mộ, có nâng mộ của cha mẹ lên cao như hiện nay. Trong quá trình ông N bồi đắp nền, nâng mộ của cha mẹ ông, bà đều biết nhưng không dám ngăn cản, phản đối vì sợ xảy ra xô xát. Qua thẩm định tại chỗ phần đất tranh chấp Tòa án có ghi nhận trên đất có 02 trụ đá tại cạnh hướng tây, ông D1, ông N xác định trụ đá là để phân định ranh giới đất của ông D1 và ông N. Ông, bà thừa nhận hai trụ đá nêu trên thực tế có tồn tại trên đất tranh chấp, tuy nhiên lúc ông D1, ông N cắm trụ đá là khoảng năm 2017, khi cắm trụ đá ông, bà có biết, có thấy nhưng không ngăn cản, phản đối vì sợ xảy ra cự cãi, đánh nhau.
Nay ông, bà xác định diện tích đất tranh chấp là của bà G và thực tế đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà G đứng tên.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Lý Thị T, ông Lý Văn H3, ông Lý Văn H4, ông Lý Văn S, bà Lý Thị Đ, ông Lý Văn M cùng thống nhất trình bày:
Ông, bà xác định cha mẹ ông bà trước đây đều cho đất các ông bà. Đối với phần đất bà Hồ Cẩm G tranh chấp với ông Lý Văn N là đất của ông Lý Văn N, không phải của bà Hồ Cẩm G. Ông bà cũng không yêu cầu quyền lợi gì của mình trong vụ án này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu trình bày ý kiến:
Việc khởi kiện yêu cầu trả đất của nguyên đơn và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị đơn thì đề nghị Tòa án xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lý Văn D1 vào năm 1995 và cấp cho bà Lý Thị Q2 vào năm 1998 là đúng theo quy định của pháp luật tại thời điểm cấp giấy chứng nhận.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm 20/2023/DS-ST ngày 15/6/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu quyết định:
[1] Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Cẩm G về việc yêu cầu ông Lý Văn N trả phần đất diện tích 4.705,6m², thuộc một thửa số 381, tờ bản đồ số 15. (Trong đó, diện tích 3.163,7m² bà Hồ Cẩm G đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích 1.541,9m² chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đất tọa lạc tại ấp Q, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu).
[2] Chấp nhận yêu cầu của ông Lý Văn N về việc yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Hồ Cẩm G đứng tên đối với diện tích 3.163,7m², thuộc một thửa số 381, tờ bản đồ số 15.
[3] Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Hồ Cẩm G đối với diện tích 3.163,7m², thuộc một phần thửa số 381, tờ bản đồ số 15 do bà Hồ Cẩm G đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 20/7/2016, đất tọa lạc tại ấp Q, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
Ngày 26/6/2023, bà Hồ Cẩm G kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bà Hồ Cẩm G vẫn giữ yêu cầu kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà và xem xét việc gia đình bà từ trước đến nay vẫn sử dụng lối đi qua đất tranh chấp.
Luật sư Nguyễn Việt Q trình bày: Tại cấp phúc thẩm bà G có cung cấp chứng cứ mới về việc giao đất giữa các anh em là Biên bản chuyển nhượng đất nuôi tôm giữa cha mẹ bà là ông Hồ Quốc D, bà Lý Thị Q2 với ông Lý Văn D1 (tài liệu nộp kèm đơn kháng cáo). Nguồn gốc đất của bà G là do đổi đất với ông D1. Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có đo đạc thực tế mà chỉ cấp đại trà. Các tài liệu, lời khai và sử dụng thực tế đều thể hiện việc đổi đất giữa các anh em và việc sử dụng thực tế của bà G. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập đánh giá đầy đủ các tài liệu, chứng cứ nên bản án của cấp sơ thẩm tuyên là chưa thỏa đáng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà G. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, hủy toàn bộ bản án sơ thẩm giao cho Tòa sơ thẩm xét xử lại.
- Luật sư Cao Thị Túy G1 trình bày: Phần đất này của ông N, ông D1 khai không hề có việc đổi đất đang tranh chấp cho bà G. Các bên đều thừa nhận cũng như lời khai của các anh em trong nhà và người làm chứng sinh sống gần đất tranh chấp đều thống nhất đất này của ông N sử dụng nhiều năm nay. Hiện trạng sử dụng có cống nước do ông N sử dụng và vệ sinh hàng năm, đất của bà G ngoài con đường ở phần đất tranh chấp còn có con đường khác,... Phần trình bày của nguyên đơn là chưa đúng sự thật nên đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh trình bày:
- Về tố tụng: Hội đồng xét xử, thư ký, những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định.
- Về nội dung: Biên bản chuyển nhượng đất nuôi tôm giữa cha mẹ bà là ông Hồ Quốc D, bà Lý Thị Q2 với ông Lý Văn D1 mà phía nguyên đơn đề cập phù hợp với lời khai của các đương sự việc đổi đất giữa ông D1 với ông D, bà Q1, việc đổi đất giữa các bên đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, đánh giá trong quá trình giải quyết vụ án, nên đây không phải là tài liệu, chứng cứ mới làm thay đổi nội dung vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng pháp luật. Từ đó đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của nguyên đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của bà Hồ Cẩm G làm trong hạn luật định, là hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Bà Hồ Cẩm G yêu cầu ông Lý Văn N trả diện tích đất theo kết quả đo đạc thực tế 4.705,6m², thuộc một phần thửa số 381, tờ bản đồ số 15, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Hồ Cẩm G, xem xét việc gia đình bà từ trước đến nay có sử dụng đất, trong đó có sử dụng để đi vào phần đất phía trong.
[2] Về nội dung:
[2.1] Đất tranh chấp theo kết quả đo đạc thực tế ngày 29/4/2021, ngày 25/6/2021 và Bản Hiện trạng khu đất tranh chấp ngày 15/12/2021 của chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ, có vị trí và diện tích như sau:
- Phần đất đường nước có diện tích 1.541,9m² thuộc một phần thửa 381, tờ bản đồ số 15, theo bản đồ 299.
- Phần đất diện tích 3.163,7m², được chia làm hai phần:
+ Diện tích 3.091,2m² thuộc một phần thửa 381, tờ bản đồ số 15, theo bản đồ 299. Được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Hồ Cẩm G.
+ Diện tích 72,5m² thuộc một phần thửa 381, tờ bản đồ số 15, theo bản đồ 299. Được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Hồ Cẩm G.
Đất tọa lạc tại ấp Q, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu.
[2.2] Về nguồn gốc đất tranh chấp: Các đương sự thống nhất xác định diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc của vợ chồng cụ Lý Văn N1 và cụ Nguyễn Thị C là ông bà ngoại bà G và là cha mẹ ruột ông N khai phá, sử dụng từ trước năm 1975.
Bà G xác định: cụ N1, cụ C đã tặng cho ông Lý Văn D1 phần đất diện tích 18.750m², sau đó ông D1 kê khai, đăng ký và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 18.750m², bao gồm cả phần đất tranh chấp, trong đó có phần đất vườn tạp diện tích 3.163,7m² và phần đất đường nước diện tích 1.541,9m². Năm 1996, ông D1 đổi toàn bộ diện tích đất này với cha mẹ bà là ông Hồ Quốc D, bà Lý Thị Q1, theo đó cha mẹ bà được toàn quyền sử dụng diện tích ông D1 được cấp trong Giấy chứng nhận, còn ông D1 sử dụng phần đất của ông D, bà Q1 ở huyện Đ, tỉnh Cà Mau. Năm 1999, bà Q1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất đổi từ ông D1. Năm 2016 ông D bà Q1 làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho bà, đã sang tên Giấy chứng nhận quyền sự dụng đất.
Ông N xác định: Diện tích đất tranh chấp là của cha mẹ, ông là con út trong gia đình sinh sống cùng cha mẹ và cùng quản lý phần đất này với cha mẹ cho đến khi cha mẹ chết ông tiếp tục quản lý, sử dụng đến nay. Vì là đất hương hỏa dùng làm nơi chôn cất mồ mả ông bà, cha mẹ, nên phần đất này cha mẹ không tặng cho ông D1. Phần đất cha mẹ tặng cho ông D1 là đất làm ruộng tính từ giáp mí nền mộ trở vào trong, còn đất từ nền mộ trở ra lộ thì cha mẹ để lại cho ông quản lý để chăm sóc mồ mả ông bà.
Đối với phần đất đường nước là của cha mẹ, các anh em gồm có ông, ông H4, bà Q1 và trước đây có ông D1 sử dụng đường nước này để trồng lúa và sau này là nuôi trồng thủy sản từ khi cha mẹ còn sống đến nay, cha mẹ cũng không cho ông D1 phần đất này, nên ông D1 cũng không có đổi đất này với ông D, bà Q1.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lý Văn D1 xác định đất tranh chấp là của cha mẹ sử dụng làm nơi chôn cất người chết của gia đình, cha mẹ không có cho ông phần đất này, ông có đổi đất với ông D, bà Q1 nhưng là đất ruộng, sau này nuôi trồng thủy sản, còn đất mồ mả và đất đường nước đang tranh chấp ông không có đổi đất với ông D, bà Q1. Ông không biết ông được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng phần đất tranh chấp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hồ Quốc D, bà Lý Thị Q1 xác định phần đất tranh chấp năm 1996 ông D1 đã đổi cho ông bà và ông bà đã quản lý, sử dụng được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1999, đến năm 2016 ông bà đã tặng toàn bộ quyền sử dụng đất cho con là bà Hồ Cẩm G, nên bà G được toàn quyền quyết định, sử dụng đất.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh em ruột bà Q1 và ông N gồm: ông Lý Văn H3, ông Lý Văn H4, bà Lý Thị T, ông Lý Văn S1, ông Lý Văn M và bà Lý Thị Đ đều xác định phần đất tranh chấp cha mẹ ông bà là cụ N1 và cụ C không có cho bà Q1, phần đất này dùng để chôn cất ông bà, cha mẹ và dòng họ. Ông N ở với cha mẹ và quản lý, sử dụng phần đất này từ khi cha mẹ còn sống cho đến nay; không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà G. Ông, bà xác định đất cha mẹ đã cho ông G, nên không có yêu cầu trong vụ án này.
[2.3] Xét quá trình quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp:
Tại Biên bản lấy lời khai ông D, bà Q2 ngày 04/6/2021 (bút lục 144-146) ông D, bà Q1 trình bày: “Sau khi chuyển đổi đất với ông D1, vợ chồng tôi không canh tác mà cho ông N mượn canh tác đến năm 2000 vợ chồng tôi nhận đất lại, đối với diện tích đất tranh chấp vợ chồng tôi không canh tác mà để trống, cha vợ có trồng đước, nhưng hiện nay ông N đã đốn bán hết”.
Các con cụ N1, cụ C gồm ông N, ông H3, ông H4, ông D1, bà T, ông S1, ông M, bà Đ đều thống nhất xác định đất tranh chấp là của cha mẹ là cụ N1 và cụ C sử dụng làm nơi chôn cất người thân chết, cụ N1, cụ C quản lý, sử dụng và sau này ông N là người quản lý, sử dụng, gia đình ông D, bà Q1 không quản lý, sử dụng; ông bà xác định đất tranh chấp là của ông N, ông bà yêu cầu Tòa án xét xử bác yêu cầu khởi kiện của bà G.
Người làm chứng gồm ông Lâm Văn T1 là Trưởng ấp Q, ông Hứa Văn L, ông Cao Văn T2, ông Lý Văn S2 là người sống gần phần đất tranh chấp đều xác định đất có nguồn gốc của cụ N1 canh tác sử dụng, đến khi cụ N1 chết thì ông N tiếp tục canh tác sử dụng đất, ông D, bà Q1 không quản lý, sử dụng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bà G và ông N đều xác định khi Nhà nước làm lộ ngang phần đất tranh chấp thì Nhà nước có thu hồi một phần đất và bồi thường đất cho ông N là người nhận tiền bồi thường.
Trên đất tranh chấp các đương sự thống nhất xác định còn trụ đá cắm ranh. Bà G, ông D và bà Q1 xác định trụ đá do ông N mới cắm từ năm 2017. Ông N và các đương sự còn lại đều xác định trụ đá được cắm từ năm 1996 - 1997, khi ông D1 đổi đất với ông D, bà Q1 thì ông D1 đã cắm trụ đá là ranh từ mí nền mộ trở vào trong là đất ruộng đổi cho ông D, bà Q1, còn từ trụ đá trở ra lộ là đất hương hỏa, có mồ mả ông bà.
Người làm chứng như ông Lý Văn S2, ông Hứa Văn L, ông Cao Văn T2, ông Lâm Văn T1 (bút lục 139, 140, 141) cùng xác định đất của cụ N1, cụ C với đất của ông D1 có cắm trụ đá để phân ranh giới, hiện nay hai trụ ranh vẫn còn. Từ trụ ranh trở vô trong hậu là của ông D1, từ trụ đá trở ra đến sông là của cụ N1. Ngoài ra, trên phần đất tranh chấp còn có 04 ngôi mộ (mộ ông bà cố và ông bà ngoại của nguyên đơn và là ông bà nội và cha mẹ của bị đơn).
Bà G, ông D và bà Q1 xác định phần đất đổi từ ông D1 có diện tích 18.750m². Tuy nhiên, theo kết quả đo đạc thực tế phần đất bà G quản lý, sử dụng hiện nay (không tranh chấp), có diện tích 23.829,8m², nhiều hơn diện tích đất được cấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 5.079,8m², cũng phù hợp với diện tích đất theo Biên bản chuyển nhượng đất nuôi tôm mà bà G nộp kèm theo đơn kháng cáo. Nội dung tài liệu này cũng phù hợp với lời trình bày của các bên về thực tế giữa ông D, bà Q1 với ông D1 có việc đổi đất và phù hợp diện tích đất thỏa thuận đổi, vấn đề này đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét. Do vậy, việc bà G, ông D và bà Q1 xác định diện tích đất tranh chấp nằm trong phần đất ông D1 đã đổi cho ông D bà Q1 năm 1996 là không có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà G về việc yêu cầu ông N trả đất có diện tích 4.705,7m² là có cơ sở.
Trên cơ sở phân tích trên, việc ông D1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không đúng với hiện trạng quản lý, sử dụng đất. Việc bà Q1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng không phù hợp với thực tế quản lý, sử dụng đất và không phù hợp với giao dịch đổi đất giữa vợ chồng bà Q1 với ông D1. Tòa án cấp sơ thẩm hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà Hồ Cẩm G đứng tên đối với diện tích 3.163,7m², thuộc một phần thửa số 381, tờ bản đồ số 15, đất tọa lạc tại ấp Q, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu là phù hợp với thực tế giao dịch đổi đất giữa ông D1 với ông D, bà Q1. Đối với đất đường nước có diện tích 1.541,9m² thuộc một phần thửa 381, tờ bản đồ số 15, theo bản đồ 299 chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân, tổ chức nào, nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất này là phù hợp.
[3] Nhận định của luật sư bảo vệ quyền lợi cho bà Hồ Cẩm G không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên đề nghị về việc hủy bản án sơ thẩm không được chấp nhận.
[4] Nhận định của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Xử: Không chấp nhận kháng cáo của bà Hồ Cẩm G, giữ Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2023/DS-ST ngày 15/6/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu như sau:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Cẩm G về việc yêu cầu ông Lý Văn N trả phần đất diện tích 4.705,6m², thuộc một phần thửa số 381, tờ bản đồ số 15. (Trong đó, diện tích 3.163,7m² bà Hồ Cẩm G đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích 1.541,9m² chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đất tọa lạc tại ấp Q, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu).
2. Chấp nhận yêu cầu của ông Lý Văn N về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Hồ Cẩm G đứng tên đối với diện tích 3.163,7m², thuộc một phần thửa số 381, tờ bản đồ số 15. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Hồ Cẩm G đối với diện tích 3.163,7m², thuộc một phần thửa số 381, tờ bản đồ số 15 do bà Hồ Cẩm G đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 20/7/2016, đất tọa lạc tại ấp Q, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu.
(Bản Hiện trạng khu đất tranh chấp ngày 15/12/2021 là một phần kèm theo Bản án này).
3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản: Bà Hồ Cẩm G phải chịu là 7.542.200 đồng. Bà Hồ Cẩm G đã nộp tạm ứng 7.542.200 đồng đã chi phí hết. Ông Lý Văn N không phải chịu án phí.
4. Về án phí:
4.1. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Hồ Cẩm G phải chịu 300.000 đồng, chị G đã dự nộp tạm ứng số tiền là 300.000 đồng theo B lại thu số 0011913 ngày 07/01/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hải và số tiền là 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0000157 ngày 10/5/2022 tại Cục thi hành án tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu án phí. Ông Lý Văn N không phải chịu.
4.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Hồ Cẩm G phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm được khấu trừ vào Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000453 ngày 28/6/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu (đã nộp xong).
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thu |
Bản án số 432/2024/DS-PT ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 432/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Gioi Nhieu
