Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

____________________

Bản án số: 432/2022/DS-PT
Ngày: 29-6-2022
V/v: V/v “tranh chấp quyền sử dụng đất, chia thừa kế quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
____________________

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Tuấn Vinh

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đắc Minh
Bà Trần Thị Thu Thủy

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Nhi – Thư ký viên.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Nguyễn Thị Ngát - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong các ngày 20, 23 và 29 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 09/2022/TLPT-DS ngày 10 tháng 01 năm 2022 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất, chia thừa kế quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 17/2021/DS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2021 của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 900/2022/QĐ-PT ngày 31 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Anh Lê Bình Nhựt T, sinh năm 1984; Địa chỉ: Ấp Tân An, xã Lục Sĩ Thành, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
  2. Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1965; Địa chỉ: Số A, khu 1, thị trấn Trà Ôn, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn anh Lê Bình Nhựt T và bà Nguyễn Thị V là: Ông Lâm Văn K, sinh năm 1980; Địa chỉ: Số B khu dân cư MeTro, đường 3/2, khu vực 5, phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ (theo văn bản ủy quyền ngày 04/11/2015, ngày 19/11/2015 và ngày 22/3/2021, có mặt).

- Bị đơn: Ông Lê Bình T, sinh năm 1964; Địa chỉ: Số A, khu 1, thị trấn Trà Ôn, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Lê Bình T là: Ông Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1983; Địa chỉ: Số Q2, đường Trần Phú, phường 4, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long (theo văn bản ủy quyền ngày 23/11/2020, có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1970; Địa chỉ: Số A, khu 1, thị trấn Trà Ôn, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
  2. Ông Lê Văn Â, sinh năm 1967 (chết ngày 07/6/2019). Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Lê Văn  gồm: Bà Võ Thị Th, sinh năm 1965; Chị Lê Băng Nh, sinh năm 1992; Anh Lê Tấn L, sinh năm 1997. Cùng địa chỉ: Ấp Mỹ Lợi, xã Thiện Mỹ, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long (xin vắng mặt).
  3. Sở Tài nguyên và Môi Trường tỉnh Vĩnh Long; Trụ sở cơ quan: Số 42B, đường Phạm Thái Bường, phường 4, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn Hiếu – Chức vụ: Giám đốc (có văn bản xin vắng mặt).

- Người làm chứng: Bà Trần Thị X, sinh năm 1956. Địa chỉ: Khu 10A, thị trấn Trà Ôn, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.

Người kháng cáo: Nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn trình bày: Ông Lê Bình T* (chết năm 2011) và bà Nguyễn Thị V có diện tích 2.600m2 tại thửa 239, loại đất lúa, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại ấp Mỹ Lợi, xã Thiện Mỹ, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long do vợ chồng mua trước năm 1990. Năm 2003, gia đình cho cụ Trương Thị H (mẹ ông T*) mượn đất canh tác. Sau khi cụ H chết năm 2010, ông Lê Bình T tiếp tục canh tác và không trả lại đất.

Về di sản thừa kế: Cụ Tĩnh (chết 1995) và cụ H (chết 2010) để lại thửa 246 (3.190m2) và thửa 111 (254,3m2). Nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Lê Bình T và bà Nguyễn Ngọc H đối với thửa 111.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn trong hạn luật định và hợp lệ. Các đương sự vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt hoặc đã được tống đạt hợp lệ.

[2] Về nội dung: Đối với thửa 239, Hội đồng xét xử xét thấy không có chứng cứ chứng minh việc chuyển nhượng hợp pháp giữa ông T* và ông T. Việc ông T chiếm giữ giấy chứng nhận và canh tác không đủ căn cứ xác lập quyền sở hữu. Do đó, yêu cầu đòi lại đất của nguyên đơn là có căn cứ.

[3] Về chia thừa kế: Thửa 246 và 111 là di sản của cụ Tĩnh và cụ H. Do các cụ không để lại di chúc, di sản được chia theo pháp luật. Xét công sức đóng góp, ông T được hưởng 2 phần, kỷ phần của ông T* (do vợ con thừa kế) là 1 phần.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015. Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn. Sửa bản án sơ thẩm số 17/2021/DSST ngày 22/11/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; bác yêu cầu phản tố của bị đơn. Buộc bị đơn trả lại quyền sử dụng đất Thửa 101-3 (thửa cũ 239) diện tích 2.461,7m2 cho nguyên đơn.
  2. Chia thừa kế: Bị đơn có nghĩa vụ thanh toán giá trị phần thừa kế cho nguyên đơn số tiền 1.046.007.006đ. Giao cho bị đơn quyền sử dụng đất thửa 246 và thửa 111.
  3. Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND cấp cao tại TpHCM;
- TAND tỉnh Vĩnh Long;
- Cục THADS tỉnh Vĩnh Long;
- Các đương sự;
- Lưu: HS, VT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Dương Tuấn Vinh
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 432/2022/DS-PT ngày 29/06/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp quyền sử dụng đất, chia thừa kế quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 432/2022/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, chia thừa kế quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/06/2022
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện, sửa bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger