Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 4311/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 12/9/2024

V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Văn Phước
  2. Bà Nguyễn Hương Thủy

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 718/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2024, về việc: “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6343/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 7114/2024/QÐST - HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Vũ Mỹ H, sinh năm: 1979.

Địa chỉ: Căn hộ B, D'edge, số B đường N, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm: 1971.

Địa chỉ: Số D đường X, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Bà H xin vắng mặt, ông L vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản về việc không tiến hành hòa giải được, nguyên đơn - bà Vũ Mỹ H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Mỹ H và ông Nguyễn Văn L quen biết, tìm hiểu nhau và tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A1, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 25, quyển số 01/2005 ngày 12/04/2005. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện.

Tuy nhiên, trong quá trình chung sống giữa bà H và ông L thường xuyên bất đồng quan điểm sống, xảy ra nhiều xung đột dẫn đến đời sống chung của hai vợ chồng không hạnh phúc. Giữa bà H và ông L không còn sự chia sẽ, tin tưởng, giúp đỡ, chăm sóc và yêu thương lẫn nhau. Tình trạng hôn nhân của hai vợ chồng ngày một trầm trọng, điều này gây ảnh hưởn đến việc nuôi dạy con cái. Bà H và ông L đã cố gắng khắc phục những mâu thuẫn để hàn gắn tình cảm nhưng không được và hiện nay đã sống ly thân. Do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H yêu cầu ly hôn với ông L.

Về con chung: Bà H và ông L có 03 người con chung là Nguyễn Vũ Đức A (nam), sinh ngày 11/02/2006 (đã trưởng thành); Nguyễn Vũ Gia B (nam), sinh ngày 18/06/2007 và Nguyễn Vũ Gia C (nam), sinh ngày 29/06/2011. Bà H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Vũ Gia B và Nguyễn Vũ Gia C, không yêu cầu ông Nguyễn Văn L cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung Nguyễn Vũ Đức A đã trưởng thành nên có thể ở với ba hoặc mẹ tùy theo nguyện vọng của con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn - ông Nguyễn Văn L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và các giấy triệu tập. Tuy nhiên, ông L vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến trình bày bằng văn bản gửi đến Tòa, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và cũng không tham gia phiên tòa.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn - bà Vũ Mỹ H có đơn yêu cầu vắng mặt.

Bị đơn - ông Nguyễn Văn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến:

  • - Về tố tụng: Từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng theo Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử và thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử và thư ký đã thực hiện đúng quy định của bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Việc chấp hành pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật. Bị đơn đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của bị đơn.
  • - Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Vũ Mỹ H về việc ly hôn với ông Nguyễn Văn L, giao con chung Nguyễn Vũ Gia B (nam), sinh ngày 18/06/2007 và Nguyễn Vũ Gia C (nam), sinh ngày 29/06/2011 cho bà H chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của bà H không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên đề nghị không xem xét. Nợ chung: Đương sự khai không có.
  • Án phí đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cùng lời khai của nguyên đơn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Vũ Mỹ H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn L nên xác định là quan hệ tranh chấp về việc ly hôn theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố T nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

[2] Về việc vắng mặt của các đương sự: Bà Vũ Mỹ H là nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228, Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt bà H.

Ông Nguyễn Văn L là bị đơn đã được Tòa án xác minh nơi cư trú, theo kết quả trả lời xác minh của Công an phường T, thành phố T cho biết: “Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1971 hiện thực tế cư trú tại số D đường X, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại địa chỉ trên ông L chưa làm thủ tục đăng ký thường trú, tạm trú”.

Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã tiến hành tống đạt triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng ông L vẫn vắng mặt tại phiên tòa hôm nay nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, quyết định xét xử vắng mặt ông L.

[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn như sau:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân:

Bà Vũ Mỹ H và ông Nguyễn Văn L tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 25, quyển số 01/2005 do Ủy ban nhân dân Phường A1, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 12 tháng 4 năm 2005. Căn cứ vào khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình thì hôn nhân của bà H và ông L được công nhận là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.

Tại phiên tòa hôm nay bà H có đơn xin xét xử vắng mặt nhưng tại bản tự khai và các biên bản hòa giải, bà H xác định cuộc sống chung không mang lại hạnh phúc cho cả hai, mục đích hôn nhân không đạt được, giữa bà H và ông L có nhiều khác biệt trong quan điểm sống, thường xuyên cãi vã. Hiện nay bà H và ông L đã sống ly thân. Do đó, bà H giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn.

Ông L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Hội đồng xét xử xét thấy: Cuộc sống hôn nhân giữa bà H và ông L phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không thể chia sẻ cùng nhau dẫn đến không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống hôn nhân. Mặc dù, lời khai này của bà H không được đối chất với ông L nhưng trong suốt quá trình Tòa án thụ lý đơn ly hôn của bà H đến nay, ông L đã không chấp hành giấy triệu tập của Tòa, cũng không có bất cứ ý kiến nào gửi cho Tòa án về yêu cầu ly hôn của bà H. Điều này vừa chứng tỏ ông L không chấp hành yêu cầu triệu tập của Tòa án, vừa thể hiện ý thức không quan tâm, coi trọng hôn nhân của chính bản thân ông. Tòa án đã thực hiện việc xác minh về tình trạng hôn nhân của bà H và ông L tại địa phương, theo kết quả trả lời xác minh của Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T cho biết: Qua kiểm tra hồ sơ, đơn thư lưu trữ Ủy ban nhân dân phường T không nhận được đơn thư hay thông tin phản ánh liên quan đến mâu thuẫn hôn nhân giữa bà Vũ Mỹ H và ông Nguyễn Văn L. Ông L và bà H không công khai hay thông tin về khả năng tài chính nên UBND phường không rõ ai là người có điều kiện tốt hơn trong việc nuôi dưỡng và chăm sóc con.

Do ông L vắng mặt nên Hội đồng xét xử xem xét ý kiến phía bà H đưa ra. Từ những nhận định trên cho thấy mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân của bà H và ông L đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Vũ Mỹ H theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

[3.2] Về con chung:

Căn cứ theo Giấy khai sinh số 26 Quyển số 01/2006 ngày 10 tháng 3 năm 2006 Ủy ban nhân dân Phường D, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh cấp; Giấy khai sinh số 138 Quyển số 01/2007 ngày 11 tháng 10 năm 2007 và giấy khai sinh số 94 Quyển số 01/2011 cùng do Ủy ban nhân dân Phường A1, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh cấp nên có cơ sở xác định trẻ Nguyễn Vũ Đức A (nam), sinh ngày 11/01/2006; trẻ Nguyễn Vũ Gia B (nam), sinh ngày 18/6/2007 và trẻ Nguyễn Vũ Gia C (nam), sinh ngày 29/6/2011 là con chung của bà H, ông L.

Bà H có yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục hai con chung Nguyễn Vũ Gia B và Nguyễn Vũ Gia C và không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.

Trong quá trình Tòa án tiến hành giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt giấy triệu tập và Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải yêu cầu bà H, ông L có mặt tại Tòa để hòa giải và lắng nghe nguyện vọng của các bên về việc nuôi con chung. Tuy nhiên, ông L vắng mặt không có lý do. Tòa án đã lấy ý kiến của hai trẻ Nguyễn Vũ Gia B và Nguyễn Vũ Gia C và đều có nguyện vọng được sống cùng mẹ. Để đảm bảo điều kiện phát triển về thể chất, tinh thần cũng như không làm xáo trộn cuộc sống hiện tại của trẻ, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao con chung Nguyễn Vũ Gia B (nam), sinh ngày 18/6/2007 và trẻ Nguyễn Vũ Gia C (nam), sinh ngày 29/6/2011 cho bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Đối với con chung Nguyễn Vũ Đức A đã trưởng thành nên có thể ở với ba hoặc mẹ tùy theo nguyện vọng của con.

Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung: Bà H không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện việc bà H không yêu cầu ông L phải cấp dưỡng nuôi con.

[3] Tài sản chung và nợ chung: Bà H khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Ông L không có yêu cầu phản tố về giải quyết chia tài sản nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí: Bà H chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật, ông L không phải chịu án phí.

Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp với tài liệu chứng cứ cũng như quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Các điều 51, 56, 57, 58, 59, 71, 72, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116 và Điều 117 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Căn cứ Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Vũ Mỹ H:
    1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Mỹ H được ly hôn ông Nguyễn Văn L.

      (Giấy chứng nhận kết hôn số 25, quyển số 01/2005 do Ủy ban nhân dân Phường A1, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 12 tháng 4 năm 2005 không còn giá trị pháp luật kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật).

    2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Vũ Gia B (nam), sinh ngày 18/6/2007 và trẻ Nguyễn Vũ Gia C (nam), sinh ngày 29/6/2011 cho bà Vũ Mỹ H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Vũ Mỹ H không yêu cầu ông Nguyễn Văn L cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung Nguyễn Vũ Đức A (nam), sinh ngày 11/02/20226 đã trưởng thành nên có thể ở với ba hoặc mẹ tùy theo nguyện vọng của con.

      Ông L được quyền đến thăm, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì quyền lợi của con, người nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi.

      Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên.

      Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi; có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

      Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

      Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

      Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo qui định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

    3. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết trong vụ án.
    4. Về nợ chung: Đương sự khai không có, không yêu cầu Toà án giải quyết trong vụ án.
  2. Về án phí sơ thẩm:

    Án phí hôn nhân gia đình 300.000 đồng bà Vũ Mỹ H phải nộp, được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp theo biên lai thu số 0025874 ngày 27 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà H đã nộp đủ án phí.

  3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:

    Bà Vũ Mỹ H, ông Nguyễn Văn L được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án./.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - TAND TP.Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - Ủy ban nhân dân Phường 17, quận Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phạm Thị Thanh Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 4311/2024/HNGĐ-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 4311/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger