|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 4310/2024/DS-ST
Ngày: 12/9/2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Nga.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Văn Lợi
- Bà Nguyễn Hương Thuỷ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Bích - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý 1133/2024/TLST-DS ngày 30 tháng 5 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6394/2024/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 7113/2024/QĐST- DS ngày 23 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần C
Địa chỉ: Số A đường T, quận H, Thành phố Hà Nội
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Thanh M hoặc bà Nguyễn Trần Quỳnh T hoặc bà Nguyễn Thị Hải Y hoặc bà Ngô Minh H hoặc bà Vũ Thị Thái H1 (Văn bản ủy quyền số 1160/UQ-CNTTM-TCTH ngày 26/6/2024).
Địa chỉ: Số B đường T, Khu phố B, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Bà Đàm Thị T1, sinh năm: 1982
Địa chỉ: Căn hộ V.03, Tầng C, Tòa V, Chung cư N, số A đường M, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP C có bà Ngô Minh H có mặt, bị đơn – bà Đàm Thị T1 vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn – Ngân hàng TMCP C có bà Ngô Minh H là đại diện ủy quyền trình bày:
Ngày 03/8/2022, bà T1 có ký với Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh T3 (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng số HĐ 042.2022.TTD ký ngày 03/8/2022, Phụ lục hợp đồng đính kèm và các điều khoản và điều kiện thẻ tín dụng – các tài liệu này gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ vào đối tượng cá nhân là khách hàng có tổng giá trị các hợp đồng vay tại NHCT và đứng tên tài khoản vay trên hệ thống NHCT từ 30.000.000 đồng của bà T1 và có đảm bảo một phần: Tài khoản tiết kiệm số [...], trị giá 50.000.000 đồng theo Hợp đồng cầm cố ký ngày 03/08/2022, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 250.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.
Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 688.929.979 đồng (tính đến ngày 31/7/2024). Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà T1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 302.806.511 đồng (thứ tự thanh toán căn cứ theo khoản 1 Điều 5 của các điều khoản và điều kiện thẻ tín dụng) và Ngân hàng đã tất toán tài khoản tiết kiệm để thu hồi một phần nợ ngày 30/6/2023 với số tiền là 50.046.165 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà T1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 4 của các điều khoản và điều kiện thẻ tín dụng), ngày 25/10/2022 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 7 của các điều khoản và điều kiện thẻ tín dụng).
Tạm tính đến ngày 12/9/2024, bà Đàm Thị T1 còn nợ Ngân hàng TMCP C Chi nhánh Thủ Thiêm các khoản sau: Dư nợ gốc là 199.186.338 đồng; Số tiền lãi phát sinh là 96.894.630 đồng và phí phát sinh là 7.051.116 đồng. Tổng cộng là 303.132.084 đồng (Ba trăm linh ba triệu một trăm ba mươi hai nghìn không trăm tám mươi tư đồng).
Số tiền lãi phát sinh và phí phát sinh được tính trên số tiền nợ gốc 199.186.338 đồng và lãi suất quá hạn là 4%/tháng (lãi trong hạn là 18,5%/tháng) từ ngày ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến hiện tại.
Mặc dù, Ngân hàng đã yêu cầu bà T1 có trách nhiệm thanh toán nhưng bà T1 vẫn chưa thanh toán khoản vay quá hạn cho Ngân hàng.
Do bà T1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng TMCP C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Đàm Trị T2 phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 12/9/2024 là 303.132.084 đồng (Ba trăm linh ba triệu một trăm ba mươi hai nghìn không trăm tám mươi tư đồng), trong đó: Dư nợ gốc là 199.186.338 đồng; Số tiền lãi phát sinh là 96.894.630 đồng và phí phát sinh là 7.051.116 đồng. Ngoài ra, bà Đàm Thị T1 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Bị đơn - bà Đàm Thị T1 vắng mặt trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án nên Tòa án không thu thập được ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
- - Về tố tụng:
- - Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, về thời hạn chuẩn bị xét xử đã vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự nên Tòa án án nhân dân thành phố T cần rút kinh nghiệm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền:
Nguyên đơn - Ngân hàng TMCP C khởi kiện bà Đàm Thị T1 yêu cầu bà T1 phải thanh toán nợ gốc, lãi quá hạn phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa các bên. Căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng tín dụng và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Bị đơn - bà Đàm Thị T1 có hộ khẩu thường trú và hiện đang thực tế cư trú tại thành phố T, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp nêu trên.
[2]. Về thủ tục tố tụng:
Căn cứ vào kết quả của Phiếu yêu cầu xác minh số 1133.1/PYCXM ngày 14/6/2024, Công an phường A, thành phố T trả lời như sau: Bà Đàm Thị T1 hiện nay thực tế cư trú tại căn hộ VE3A.03, Tầng C, Tòa V, Chung cư N, số A đường M, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên, tại các thời điểm Tòa án thực hiện việc tống đạt bà T1 không có mặt ở nhà, không có ai khác nhận thay văn bản để tống đạt. Vì vậy, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức không thể thực hiện thủ tục tống đạt trực tiếp được cho bà T1.
Do không tống đạt trực tiếp được, áp dụng Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng tại 03 nơi: Nơi cư trú của bà T1 tại Căn hộ VE3A.03, Tầng C, Tòa V, Chung cư N, số A đường M, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Trụ sở Ủy ban nhân dân phường A, thành phố T và tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, thời gian niêm yết văn bản tố tụng là 15 ngày kể từ ngày niêm yết. Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án được tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[3]. Về nội dung vụ án:
[3.1] Về yêu cầu thanh toán nợ gốc và lãi:
Ngân hàng TMCP C yêu cầu bà Đàm Thị T1 phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 12/9/2024 là 303.132.084 đồng (Ba trăm linh ba triệu một trăm ba mươi hai nghìn không trăm tám mươi tư đồng) trong đó: Dư nợ gốc là 199.186.338 đồng; Số tiền lãi phát sinh là 96.894.630 đồng và phí phát sinh là 7.051.116 đồng. Ngoài ra, bà Đàm Thị T1 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. Hội đồng xét xử xét thấy:
Theo Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng số HĐ 042.2022.TTD ký ngày 03/8/2022, Phụ lục hợp đồng đính kèm và các điều khoản và điều kiện thẻ tín dụng. Căn cứ vào đối tượng cá nhân là khách hàng có tổng giá trị các hợp đồng vay tại NHCT và đứng tên tài khoản vay trên hệ thống NHCT từ 30.000.000 đồng của bà T1 và có đảm bảo một phần: Tài khoản tiết kiệm số [...], trị giá 50.000.000 đồng theo Hợp đồng cầm cố ký ngày 03/8/2022, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 250.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Các thỏa thuận này không trái quy định pháp luật nên là căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.
Quá trình tòa án giải quyết vụ án, bị đơn không đến Tòa án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tòa án cũng không nhận được văn bản trình bày ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào lời khai của nguyên đơn, bản tóm tắt sao kê ngày 31/7/2024; ngày 12/9/2014. Căn cứ vào hồ sơ đề nghị cấp thẻ tín dụng của bị đơn để xác định: Bà T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 688.929.979 đồng (tính đến ngày 31/7/2024). Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà T1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 302.806.511 đồng (thứ tự thanh toán căn cứ theo khoản 1 Điều 5 của các điều khoản và điều kiện thẻ tín dụng) và Ngân hàng đã tất toán tài khoản tiết kiệm để thu hồi một phần nợ ngày 30/6/2023 số tiền là 50.046.165 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà T1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Tạm tính đến ngày 12/9/2024, Bà T1 còn nợ Ngân hàng số tiền dư nợ gốc là 199.186.338 đồng là có căn cứ nên chấp nhận.
Về số tiền lãi: Do bà T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Điều 4 của các điều khoản và điều kiện thẻ tín dụng, từ ngày 25/10/2022 Ngân hàng ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến hiện tại. Số tiền lãi phát sinh và phí phát sinh được tính trên số tiền nợ gốc 199.186.338 đồng và lãi suất quá hạn là 4%/tháng (lãi trong hạn là 18,5%/tháng)
Ngân hàng TMCP C là tổ chức tín dụng được phép kinh doanh tiền tệ, căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng thì các tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng. Tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng xác lập ngày 03/08/2022, ông bà Đàm Thị T1 cam kết: “Bằng việc ký vào mẫu đơn này, khách hàng xác nhận đã đọc và đồng ý bị ràng buộc bởi các Điều khoản và Điều kiện thẻ tín dụng chi phối việc phát hành và sử dụng thẻ... Khách hàng chịu trách nhiệm đối với những nghĩa vụ và trách nhiệm phát sinh liên quan đến việc sử dụng thẻ tín dụng mà khách hàng được cấp”.
Như vậy, lãi suất được Ngân hàng TMCP C sử dụng để tính lãi đối với khoản nợ của bà T1 tính đến tính đến ngày 12/9/2024 với số tiền lãi phát sinh là 96.894.630 đồng và phí phát sinh là 7.051.116 đồng là phù hợp với mức lãi suất quy định nên có căn cứ để chấp nhận.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy có đầy đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng buộc bà Đàm Thị T1 phải thanh toán ngay cho Ngân hàng toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi (lãi quá hạn, lãi chậm trả lãi), các khoản phí, chi phí phát sinh, các khoản hoàn trả theo các hồ sơ cấp tín dụng trên, với số tiền tạm tính đến ngày ngày 12/9/2024 là 303.132.084 đồng (Ba trăm linh ba triệu một trăm ba mươi hai nghìn không trăm tám mươi tư đồng) trong đó: Dư nợ gốc là 199.186.338 đồng; Số tiền lãi phát sinh là 96.894.630 đồng và phí phát sinh là 7.051.116 đồng.
Bà T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận cho đến khi thanh toán xong nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử.
[4]. Về án phí:
Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu nên bị đơn phải chịu án phí. Bà Đàm Thị T1 phải chịu án phí là 15.156.604 đồng (Mười lăm triệu một trăm năm mươi sáu nghìn sáu trăm linh bốn đồng). Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 6.817.814 đồng (Sáu triệu tám trăm mười bảy nghìn tám trăm mười bốn đồng) theo biên lai thu số 0027131 ngày 28/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.
[5].Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- - Điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQQ- HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cáo;
- - Căn cứ Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP C đối với bà Đàm Thị T1 về việc thanh toán các khoản nợ tín dụng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Về quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP C, bà Đàm Thị T1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án./.
Buộc bà Đàm Thị T1 phải thanh toán ngay cho Ngân hàng TMCP C số tiền nợ gốc là 199.186.338 đồng; Nợ lãi và phí tạm tính đến ngày 12/9/2024: Nợ lãi là 96.894.630 đồng và phí phát sinh là 7.051.116 đồng. Tổng cộng: 303.132.084 đồng (Ba trăm linh ba triệu một trăm ba mươi hai nghìn không trăm tám mươi tư đồng). Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Đàm Thị T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận cho đến khi thanh toán xong nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Bị đơn - bà Đàm Thị T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 15.156.604 đồng (Mười lăm triệu một trăm năm mươi sáu nghìn sáu trăm linh bốn đồng). Bà T1 chưa nộp án phí.
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP C số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 6.817.814 đồng (Sáu triệu tám trăm mười bảy nghìn tám trăm mười bốn đồng) theo biên lai thu số 0027131 ngày 28/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Nga |
Bản án số 4310/2024/DS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 4310/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
