Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HOÀI ĐỨC

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 431/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 27/9/2024

V/v: Tranh chấp hôn nhân

gia đình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Lan Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Nguyễn Xuân Lưu;
  • 2. Bà Nguyễn Thị Xuân Hương;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức tham gia phiên tòa: Ông Lưu Thế Tài – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 306/2024/TLST- HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2024 về việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2024/QĐXX-ST ngày 31 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 97/2024/QĐST-HNGĐ ngày 17/9/2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị T, sinh năm 1992; HKTT: thôn P, xã V, huyện H, thành phố Hà Nội. (Có mặt)
  • - Bị đơn: Anh Vũ Đắc C, sinh năm 1992; HKTT: thôn P, xã V, huyện H, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại Đơn xin ly hôn (không đề ngày) và lời khai trong toàn bộ quá trình giải quyết, lời khai tại phiên toà, nguyên đơn – chị Trịnh Thị T trình bày:

Chị và anh Vũ Đắc C lấy nhau có đăng ký kết hôn ngày 16/9/2013 tại UBND xã V, huyện H, Hà Nội trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, suy nghĩ khác nhau, thường hay xung đột dẫn đến tình cảm vợ chồng sứt mẻ, không có tiếng nói chung, hai bên gia đình đã hoà giải nhiều lần nhưng không thành. Vợ chồng đã ly thân về tình cảm vợ chồng. Nay chị xác định mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn.

Về con chung, chị và và anh C có 02 con chung là Vũ Trịnh Ngọc M, sinh ngày 22/3/2014 và Vũ Đắc Minh Q, sinh ngày 30/10/2017. Sức khỏe con chung bình thường. Chị có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu M, còn giao cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Q.

Hiện chị đang công tác tại Lữ đoàn B – Binh chủng Thông tin liên lạc thu nhập trung bình khoảng 13.000.000 đồng/tháng. Chị và anh C không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nhà ở chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về công nợ, vợ chồng không nợ ai và không cho ai vay nợ, không yêu cầu giải quyết. Ngoài ra, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề nào khác.

Tại phiên toà, chị T giữ nguyên yêu cầu đã trình bày như trên.

Tại Bản tự khai ngày 16/8/2024, bị đơn – anh Vũ Đắc C trình bày:

Về hôn nhân, anh và chị T có kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung. Mâu thuẫn đã được hai bên gia đình hoà giải nhưng không thành. Về tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được chị T xin ly hôn anh đồng ý.

Về con chung, có hai con chung như chị T trình bày là đúng, anh có nguyện vọng được nuôi cả hai con chung. Anh không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Hiện anh đang làm tự do kinh doanh nhà nghỉ và cho thuê trọ, thu nhập ổn định khoảng 20.000.000 – 30.000.000 đồng/tháng. Về tài sản chung, không yêu cầu. Về công nợ, không có.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức phát biểu ý kiến:

  • + Về tố tụng: Tòa án đã tiến hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc thụ lý vụ án, lấy lời khai, công khai chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng, chuyển hồ sơ sang Viện kiểm sát đúng quy định, đảm bảo thời hạn xét xử. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự chấp hành đúng quy định pháp luật.
  • + Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T. Về con chung, đề nghị giao con chung cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu M, giao cho anh C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Q; anh chị không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nhà ở chung, anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét. Về công nợ, anh chị xác nhận không nợ ai và không cho ai vay nợ nên không xét. Về án phí, chị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Tại Đơn xin ly hôn và tài liệu kèm theo thể hiện bị đơn có nơi cư trú tại xã V, huyện H, thành phố Hà Nội, vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức thụ lý và giải quyết vụ án hôn nhân gia đình trên là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung vụ án:

2.1. Về hôn nhân: Chị Trịnh Thị T và anh Vũ Đắc C lấy nhau có đăng ký kết hôn ngày 16/9/2013 tại UBND xã V, huyện H, thành phố Hà Nội trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu. Đây là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình Tòa án giải quyết, chị T và anh C thống nhất xác định vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc. Hai bên gia đình đã hoà giải nhiều nhưng không thành. Chị T xin ly hôn, anh C đồng ý ly hôn. Đại diện chính quyền địa phương nơi anh chị chung sống cung cấp: do mâu thuẫn của anh chị không thể hiện ra bên ngoài nên địa phương không nắm được.

Xét, chị T, anh C đều thừa nhận vợ chồng mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống dẫn đến tình cảm không còn, giữa vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, cuộc sống không có sự chia sẻ, đồng cảm. Chị T xin ly hôn, anh C cũng đồng ý. Điều đó thể hiện mâu thuẫn giữa anh chị đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình nên chấp nhận.

2.2. Về con chung: Chị T và anh C có 02 con chung là Vũ Trịnh Ngọc M, sinh ngày 22/3/2014 và Vũ Đắc Minh Q, sinh ngày 30/10/2017. Sức khỏe con chung bình thường. Chị T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu M, còn giao cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Q. Anh C có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung. Anh chị không yêu cầu bên kia phải đóng góp nuôi con.

Chị T hiện đang làm nhân viên tại Lữ đoàn 205 – Binh chủng Thông tin liên lạc, thu nhập trung bình khoảng 13.000.000 đồng/tháng. Anh C hiện làm nghề tự do, thu nhập khoảng 20.000.000 – 30.000.000 đồng/tháng. Đại diện chính quyền địa phương cung cấp, cháu M, cháu Q không thuộc diện trợ cấp xã hội tại địa phương.

Xét, việc giao con chưa thành niên cho ai nuôi dưỡng khi ly hôn cần căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Chị T và anh C đều đủ điều kiện nuôi con, hiện cả hai anh chị cùng chăm sóc con chung, sức khoẻ con chung bình thường. Do vậy, giao cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cháu M, giao cho anh C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Q là phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.

Chị T, anh C tự nguyện không yêu cầu đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Sự tự nguyện của anh chị phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Chị T, anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.

2.3. Về tài sản chung và nhà ở chung: Chị T, anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

2.4. Về công nợ: Chị T, anh C xác nhận vợ chồng không nợ chung ai và không cho ai vay nợ, không yêu cầu giải quyết nên không xét.

Ngoài ra, chị T, anh C không yêu cầu giải quyết vấn đề nào khác nên không xét.

2.5. Về án phí và quyền kháng cáo:

Chị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Chị T, anh C có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Từ những nhận định trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và điểm 1.1 phần II mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.

Xử:

  1. Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Trịnh Thị T đối với anh Vũ Đắc C. Chị T được ly hôn anh C.
  2. Về con chung: Chị T, anh C xác nhận có hai con chung là Vũ Trịnh Ngọc M, sinh ngày 22/3/2014 và Vũ Đắc Minh Q, sinh ngày 30/10/2017.

Giao cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu M, giao cho anh C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Q kể từ khi bản án này có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.

Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung của chị T, anh C, kể từ khi bản án này có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.

Chị T, anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.

  1. Về tài sản chung, nhà ở chung: Chị T, anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
  2. Về công nợ: Chị T, anh C xác nhận vợ chồng không nợ chung ai và không cho ai vay nợ, không yêu cầu giải quyết nên không xét.
  3. Về án phí: Chị Trịnh Thị T phải chịu số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số BLTU/23/0005889 ngày 17/7/2024 của Cơ quan Thi hành án dân sự huyện H, thành phố Hà Nội.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt chị Trịnh Thị T, vắng mặt anh Vũ Đắc C. Chị T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND h.Hoài Đức;
  • - TAND TP.Hà Nội;
  • - VKSND TP.Hà Nội;
  • - Chi cục THADS h.Hoài Đức;
  • - UBND x.Vân Côn, h.Hoài Đức, Hà Nội.
  • (Giấy chứng nhận kết hôn số 72 ngày 16/9/2013).
  • - Lưu HS, VP.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Lan Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 431/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 431/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử cho ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger