Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 431/2024/HS-PT

Ngày: 31/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Điều Văn Hằng;

Các Thẩm phán:

Ông Phạm Văn Nam;

Ông Nguyễn Trọng Đoàn.

- Thư ký phiên toà: Bà Triệu Hương Thùy, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Hải, Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm là Trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội; tại điểm cầu thành phần là Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 190/2024/TLPT-HS ngày 19 tháng 02 năm 2024 do có kháng cáo của bị cáo Bùi Thanh M đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 148/2023/HS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Bị cáo có kháng cáo:

Bùi Thanh M, sinh năm 2003. Hộ khẩu thường trú: Khu phố H, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Thanh T, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1983; gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất; vợ: Triệu Thu T1, sinh năm 1998, con: có 01 con sinh ngày 28/8/2023; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/7/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo M do Tòa án chỉ định: Luật sư Hoàng Ngọc Thanh B, Đoàn luật sư thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 45 phút ngày 26/7/2023, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B (PC04) phối hợp với Công an phường P, thị xã Q bắt quả tang Bùi Thanh M có hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy. Thu giữ: - Tại túi áo khoác phía trước bên phải của M đang mặc 01 túi nilon màu xanh, bên trong túi nilon màu xanh chứa các viên nén màu hồng và màu xanh.

- Thu giữ tại túi quần phía trước bên trái của M đang mặc 02 túi nilon màu trắng, bên trong 02 túi nilon màu trắng đều chứa chất tinh thể màu trắng.

Tổ công tác tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng vào trong 01 hộp giấy. M khai nhận các viên nén màu hồng, màu xanh và chất tinh thể màu trắng chưa trong các túi nilon là ma túy M được người phụ nữ tên H (không rõ họ, tuổi, lai lịch, địa chỉ cụ thể ở đâu) thuê vận chuyển từ huyện V, tỉnh Bắc Giang về khu vực siêu thị D thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. H hứa trả công cho M 1.000.000 đồng. Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ của M 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 12 Promax màu xanh, lắp sim số 0345.039.686 và 01 xe môtô HONDA nhãn hiệu SH màu trắng, biển kiểm soát 99G1-286.92.

Tại Kết luận giám định số 1558/KL- KTHS ngày 28/7/2023 Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

  • “- Chất tinh thể màu trắng bên trong 01 hộp giấy gửi giám định có khối lượng 62,1196 gam; Là ma túy ; Loại ma túy Methamphetmaine.
  • - Các viên nén màu xanh và màu hồng bên trong 01 hộp giấy gửi giám định có khối lượng 17,6247 gam là ma túy ; Loại ma túy Methamphetmaine.

Methamphetamine là chất ma túy được quy định tại Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục các chất ma túy và tiền chất”.

Quá trình điều tra xác định: M có mối quan hệ xã hội với người phụ nữ tên H. Khoảng 14 giờ ngày 26/7/2023, H gọi điện bảo M đến khu vực huyện V, tỉnh Bắc Giang (đoạn qua cầu Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh) gặp một người thanh niên tên H1 (không rõ họ, tuổi, lai lịch, địa chỉ cụ thể ở đâu) để nhận mang ma túy về cho H, H hứa trả tiền công cho M 1.000.000 đồng. M đồng ý và đi xe môtô HONDA nhãn hiệu SH màu trắng, biển kiểm soát 99G1-286.92 mượn của mẹ đẻ đến khu vực huyện V, tỉnh Bắc Giang gặp người thanh niên tự giới thiệu tên H1, H1 đưa cho M 02 túi nilon màu trắng chứa ma túy “đá”, tức ma túy M1 và 01 túi nilon màu xanh chứa ma túy “ngựa”, tức ma túy Methamphetmaine. Sau khi nhận được ma túy, M cất giấu ma túy “đá” vào túi quần phía trước bên trái và cất ma túy “ngựa” vào túi áo khoác phía trước bên phải đang mặc rồi đi về thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh để giao ma túy cho H. Khi M đỗ xe tại đoạn đường T gần siêu thị D thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh chờ H đến lấy ma túy thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B kiểm tra, phát hiện thu giữ số ma túy như trên.

Tiến hành kiểm tra điện thoại di động iphone 12 Promax, lắp sim số 0345.039.686 của M, xác định: Tại phần cuộc gọi, tin nhắn có cuộc gọi, tin nhắn với số điện thoại 0347.028.xxx, M lưu trong mục danh bạ là “Cj hằng”. M khai nhận số điện thoại 0347.028.xxx là của H, người thuê M vận chuyển ma túy.

Tra cứu thông tin chủ thuê bao di động số 0347028723 mang tên Phan Bảo T2, sinh ngày 21/5/1999, địa chỉ: số E, khu phố C, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Phan Bảo T2 khai nhận không đăng ký, sử dụng số điện thoại 0347.028.xxx, không cho ai mượn căn cước công dân đăng ký số điện thoại trên không quen biết người phụ nữ tên H và Bùi Thanh M.

Tại Bản cáo trạng số 170/CT-VKS-P1 ngày 15/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Bùi Thanh M về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 250 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 148/2023/HS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh quyết định:

  1. Tuyên bố bị cáo Bùi Thanh M phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 250; điểm s, điểm u khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm

2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án:

Xử phạt Bùi Thanh M 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/7/2023.

Duy trì Quyết định tạm giam số 269/2023/HSST-QĐTG ngày 17/11/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đối với bị cáo M để đảm bảo thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 21 tháng 12 năm 2023 bị cáo Bùi Thanh M có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm hình phạt.

Tại phiên Tòa phúc thẩm bị cáo M thừa nhận hành vi phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” như cấp sơ thẩm quy kết. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt cho bị cáo với lý do bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo tích cực hợp tác với cơ quan Công an trong việc phát hiện tội phạm được cơ quan Công an, Viện kiểm sát xác nhận và các đối tượng tội phạm này đã bị khởi tố và xét xử; bị cáo tích cực nộp án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo nhất thời hám lợi mà phạm tội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm. Sau khi phân tích, đánh giá hành vi của bị cáo Bùi Thanh M,Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội thấy có đủ căn cứ xác định bị cáo phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” với trọng lượng hơn 79 g Methamphetamine. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo theo điểm b khoản 3 Điều 250 Bộ luật hình sự là chính xác. Trong vụ án này, bị cáo thành khẩn khai báo, tích cực hợp tác với cơ quan Công an trong việc phát hiện tội phạm được cơ quan Công an xác nhận; bị cáo tích cực nộp án phí hình sự sơ thẩm và bị cáo nhất thời hám lợi mà phạm tội. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới được quy định tại điểm s, u khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, mức hình phạt 15 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên với bị cáo là có phần nghiêm khắc.Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo có thêm nhiều tình tiết mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để chấp nhận kháng cáo giảm hình phạt cho bị cáo từ 1-2 năm tù, sửa bản án sơ thẩm.

Luật sư bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử giảm hình phạt cho bị cáo. Thể hiện tính khoan

hồng, nhân văn chảu Nhfa nước ta, tạo điều kiện cho bị cáo tích cực cải tạo tốt sớm trở về cộng đồng.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, lời khai của bị cáo,ý kiến của Kiểm sát viên, luật sư bào chữa cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

[1] Trong quá trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm bị cáo Bùi Thanh M thừa nhận: Vào khoảng 14 giờ 45 phút ngày 26/7/2023 tại khu vực siêu thị D thuộc địa phận phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B (PC04) phối hợp với Công an phường P, thị xã Q bắt quả tang Bùi Thanh M có hành vi vận chuyển 79,7416 gam ma túy Methamphetamine từ huyện V, tỉnh Bắc Giang về gần siêu thị D thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh cho người phụ nữ tên H, tiền công là 1.000.000 đồng. Khi M đang chờ H đến nhận ma túy thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ tang vật. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, vật chứng thu được, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm đã kết án Bùi Thanh M về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp điểm b khoản 3 Điều 250 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, đúng người, đúng tội.

[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Bùi Thanh M, Hội đồng xét xử thấy:

Bị cáo Bùi Thanh M vận chuyển 79,7443 gam ma tuý Methamphetamine khối lượng là lớn, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vận chuyển ma tuý trái phép từ tỉnh Bắc Giang xuống tỉnh Bắc Ninh. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Tòa án cấp sơ thẩm bị cáo cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là có căn cứ. Khi phạm tội bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, hành vi phạm tội mang tính nhất thời, do hám lợi. Bị cáo M khai báo thành khẩn trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm. Trong quá trình điều tra bị cáo tích cực hợp tác với cơ quan Công an trong việc phát hiện tội phạm. Do có sự hợp tác của bị cáo, các đối tượng phạm tội đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố và xét xử kịp thời. Ngoài ra, bị cáo tích cực đóng góp thường xuyên vào các hoạt động của địa phương. Tại cấp phúc thẩm bị cáo M xuất trình thêm các tài liệu về

các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới như bị cáo tích cực chấp hành một phần bản án sơ thẩm, nộp án phí hình sự sơ thẩm theo biên lai thu tiền số 0000348 ngày 30/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh và đồng thời có giấy xác nhận của chính quyền địa phương, Công an phường nơi bị cáo cư trú nhận xét bị cáo trước khi phạm tội luôn chấp hành tốt các quy định pháp luật, tích cực tham gia các hoạt động tại địa phương, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm hình phạt cho bị cáo. Đánh giá toàn diện vụ án thấy trước khi phạm tội bị cáo là ngừoi có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, tuổi đời còn trẻ do hám lợi nhất thời mà phạm tội; trong vụ án này bị cáo M được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Do vậy, mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo M là có phần nghiêm khắc.

Tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu, tuổi đời còn trẻ, phạm tội nhất thời nên để đảm bảo tính khoan hồng, tác dụng phòng ngừa chung và giáo dục riêng của pháp luật đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 và Điều 54 Bộ luật Hình sự, chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm là phù hợp.

Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 và Điều 54 Bộ luật Hình sự và có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm nhằm xử phạt bị cáo đảm bảo có tính khoan hồng, nhân văn, đồng thời có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung và giáo dục riêng.

Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Bùi Thanh M không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ vào điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

QUYẾT ĐỊNH

  1. Chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Bùi Thanh M; sửa bản án sơ thẩm.

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 250; điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 47; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bùi Thanh M 13 (mười ba) năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 26/7/2023.

  1. Về án phí: Bị cáo Bùi Thanh M không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Xác nhận bị cáo Bùi Thanh M đã nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm, theo biên lai thu tiền số 0000348 ngày 30/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.

Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm nêu trên không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ 1 TAND tối cao;
  • - VKSNDCC tại Hà Nội;
  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - Trại tạm giam - CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Bị cáo (qua TTG);
  • - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Điều Văn Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 431/2024/HS-PT ngày 31/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về vận chuyển trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 431/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: kc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger