|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 431/2024/HNGĐ-ST Ngày: 19-4-2024 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Anh Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Thái Văn Sơn;
- 2. Bà Lê Thị Phương Hồ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Quang Thị Thùy Ly - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Trúc Phượng – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 1034/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 117/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị P, sinh năm: 1989; địa chỉ: Số B, Đường E, Tổ F, ấp X, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Duy A, sinh năm: 1984; địa chỉ: Số B, Đường E, Tổ F, ấp X, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn ngày 28 tháng 7 năm 2023 và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị P trình bày:
Bà với ông Nguyễn Duy A tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức cưới, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn số 36, Quyển số 01/2009 ngày 04/5/2009. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung tại nhà chồng ở xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Vợ chồng hạnh phúc một thời gian, rồi phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, ông A thường xuyên nhậu nhẹt và có những mối quan hệ khác bên ngoài. Bà P đã nhiều lần tha thứ nhưng ông A không sửa đổi. Bà xác định không còn tình cảm vợ chồng nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông A.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên là Nguyễn Trần Tiến M, sinh ngày: 19/06/2009; hiện con chung đang sống với ông A. Bà đồng ý để ông A được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung và tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000 đồng/tháng đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nghĩa vụ dân sự chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét.
Các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình gồm: Đơn xin ly hôn, bản tự khai, trích lục khai sinh con chung (bản sao), giấy chứng nhận kết hôn (bản chính); sổ hộ khẩu (bản sao).
Ông Nguyễn Duy A đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập đương sự đến tham gia phiên tòa đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông A.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến khi xét xử, tại phiên tòa, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án cũng như Hội đồng xét xử sơ thẩm đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 36 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 04/5/2009 thể hiện hôn nhân giữa bà Trần Thị P và ông Nguyễn Duy A là hợp pháp.
Căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn thể hiện sau khi kết hôn,hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, đời sống hôn nhân không hạnh phúc. Hiện bà P và ông A không thể giải quyết nên không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân nên yêu cầu Tòa án cho ly hôn.
Về phía ông A dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn không đến Tòa án để trình bày quan điểm dù Tòa đã tống đạt hợp lệ và xác minh ông A vẫn sinh sống tại địa phương. Xét thấy tình cảm vợ chồng của ông A và bà P không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu được chấm dứt quan hệ hôn nhân của nguyên đơn là có cơ sở, phù hợp với pháp luật và thực tế để các bên ổn định đời sống.
Căn cứ Trích lục khai sinh số 725 ngày 22/11/2018 do UBND xã T, huyện C cấp thể hiện bà P và ông A có 01 con chung tên Nguyễn Trần Tiến M sinh ngày 19/6/2009. Xét thấy cháu M hiện đang ở với ông A, bà P cũng đồng thuận việc ông A nuôi con, bà P tự nguyện cấp dưỡng cho cháu M 3.000.000 đồng/tháng. Do đó, giao cháu M cho ông A tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Bà P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
2
Trường hợp bà P có tranh chấp về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sẽ được giải quyết trong vụ án khác.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận.
Về nợ chung: Không có.
Bởi các lẽ trên, đề nghị Hội đồng xét xử
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 51, 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào nội dung Đơn khởi kiện ngày 28 tháng 7 năm 2023, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định quan hệ pháp luật có tranh chấp là “Ly hôn theo yêu cầu của một bên” được quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thuộc trường hợp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có nơi cư trú tại xã T, huyện C nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Về tống đạt, xét xử vắng mặt của đương sự: Ông Nguyễn Duy A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông A.
[2] Về nội dung:
[2.1] Quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị P và ông Nguyễn Duy A tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 36, Quyển số: 01/2009 ngày 04/5/2009 nên là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận.
Xét yêu cầu của bà Trần Thị P khởi kiện ly hôn với ông Nguyễn Duy A là có căn cứ chấp nhận. Bởi lẽ, theo lời trình bày của bà P thì mâu thuẫn giữa bà với ông A là trầm trọng và không thể hàn gắn do bất đồng quan điểm sống mà vợ chồng thường xuyên cãi vã gay gắt, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau làm cho gia đình mất hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà với ông A đã ly thân với nhau.
Ông Nguyễn Duy A đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không đến và cũng không cung cấp văn bản trình bày ý kiến hay bất cứ tài liệu, chứng cứ chứng minh có liên quan đến vụ án. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông A căn cứ theo các tài liệu chứng cứ mà phía nguyên đơn cung cấp theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
3
Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định tình cảm vợ chồng giữa bà Trần Thị P với ông Nguyễn Duy A không còn, tình trạng hôn nhân mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung của hai bên không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.2] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên là Nguyễn Trần Tiến M, sinh ngày: 19/06/2009; hiện con chung đang sống với ông A. Để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của con chung và yêu cầu của bà P cũng như nguyện vọng của trẻ M nên cần giao cho ông A tiếp tục được quyền nuôi dưỡng con chung và bà P cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000 đồng/tháng đến khi con chung đủ 18 tuổi là phù hợp.
[2.3] Về tài sản chung: Ghi nhận lời khai của bà P xác định tài sản chung vợ chồng tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp sau này, bà P và ông A phát sinh tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân sẽ được quyền khởi kiện bằng một vụ kiện khác.
[2.4] Nghĩa vụ dân sự chung: Ghi nhận lời khai của bà P xác định vợ chồng không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xét.
[2.5] Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm:
Bà P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[5]. Về phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với việc giải quyết vụ án:
Về nội dung vụ án: Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị P.
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị P được ly hôn với ông Nguyễn Duy A.
4
Giấy chứng nhận kết hôn số 36, Quyển số 01/2009 ngày 04/5/2009 đã được Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà P và ông A không còn giá trị pháp lý.
[2]. Về con chung: Có 01 con chung tên là Nguyễn Trần Tiến M, sinh ngày: 19/06/2009. Ông A được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung, ghi nhận sự tự nguyện của bà P cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000 đồng/tháng, bắt đầu thi hành từ khi bản án có hiệu lực pháp luật đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Việc cấp dưỡng nuôi con chung có thể thay đổi do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu người không trực tiếp nuôi con chung lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con chung có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con chung.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
[3]. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận. Trường hợp sau này, bà P và ông A phát sinh tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân sẽ được quyền khởi kiện bằng một vụ kiện khác.
[4]. Nghĩa vụ dân sự chung: Không có.
[5]. Án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) bà Trần Thị P tự nguyện nộp nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: AA/2023/0018133 ngày 05/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi, T phồ Hồ Chí Minh. Bà P phải nộp thêm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí.
[6]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Dương Anh Đạt |
5
6
Bản án số 431/2024/HNGĐ-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 431/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Trần Thị P được ly hôn ông Nguyễn Duy A
