Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

Bản án số: 431/2024/HS- ST

Ngày 06- 8- 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: ông Phạm Năng Thành

Thẩm phán: ông Hoàng Nhật Tân

Các Hội thẩm nhân dân: ông Lê Văn Bình, ông Chu Xuân Vượng và bà Nguyễn Vũ Thị Tuyết Mai

- Thư ký phiên toà: ông Đỗ Duy Trung- Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Kim Anh- Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 300/2024/TLST- HS ngày 18 tháng 06 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 411/2024/ QĐXXST- HS ngày 08 tháng 07 năm 2024, đối với:

* Bị cáo Phùng Văn K; sinh năm 1993, tại Phú Thọ; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: khu T, xã T, C, Phú Thọ; nơi ở thuê trọ: P1105 tòa nhà L, thị trấn Q, M, Hà Nội; trình độ văn hóa: 09/12; nghề nghiệp: lao động tự do; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Phùng Văn L (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; có vợ là Lê Thị P (sinh năm 1985) và có 02 con (sinh năm 2017 và năm 2021); tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 20/7/2020, Công an huyện S xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Mời chào khách đi xe ô tô trái quy định gây mất trật tự công cộng theo hình thức phạt tiền 200.000 đồng (đã hết thời hiệu); bị bắt truy nã và tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/02/2024, tại Trại tạm giam số 1- Công an Thành phố H; có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo Phùng Văn K (theo chỉ định) có ông Nguyễn Ánh T1; luật sư của văn phòng luật sư Nguyễn A, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H; 091.420.1xxx; có mặt.

* Người bị hại:

  1. Chị Nguyễn Thị H; sinh năm 1990; địa chỉ: phòng G, sảnh B, chung cư E, xã T, T, Hà Nội; vắng mặt.
  2. Anh Bùi Văn T2; sinh năm 1985; địa chỉ: thôn P, xã Y, V, Vĩnh Phúc; vắng mặt.
  3. Chị Nguyễn Thị H1; sinh năm 1979; địa chỉ: số nhà D, phường B, H, Hà Nội; vắng mặt.
  4. Anh Đỗ Văn T3; sinh năm 1987; địa chỉ: thôn B, xã B, Đ, Hà Nội; có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Bị án Nghiêm Văn D; sinh năm 1991; địa chỉ: tổ dân phố D, phường M, N, Hà Nội; hiện đang chấp hành án tại đội 34- K1- Trại giam P3- Bộ C; vắng mặt.

- Chị Nguyễn Ngân Phương T4; sinh năm 1992; địa chỉ: tổ dân phố D, phường M, N, Hà Nội; vắng mặt.

* Người làm chứng:

- Anh Tô Bá D1; sinh năm 1988; địa chỉ: xóm B, xã K, Y, Ninh Bình; vắng mặt.

- Anh Lê Đức H2; sinh năm 1979; địa chỉ: xã M, P, Bình Định; vắng mặt.

- Anh Bùi Quang T5; sinh năm 1995; địa chỉ: số nhà E, đường N, khu A, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Hành vi Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của Phùng Văn KNghiêm Văn D:

Năm 2019, Nghiêm Văn D đã nhờ chị Nguyễn Thị H (cộng tác viên hỗ trợ cấp thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại cổ phần K2) làm giúp thẻ tín dụng nên quen biết nhau. Tháng 05 năm 2020, D góp vốn với chị H cùng làm dịch vụ hỗ trợ khách hàng (có nhu cầu làm thẻ tín dụng) để có thu nhập; khi làm thẻ tín dụng, khách hàng phải đưa cho D hoặc hoặc chị H giấy tờ tùy thân, tài khoản Ngân hàng muốn làm thẻ tín dụng và 01 điện thoại thông minh (S) kèm theo Sim điện thoại, có cài ứng dụng và mật khẩu Internet Banking để nhận mã OTP; được một thời gian ngắn thì D và chị H xảy ra mâu thuẫn nên không làm ăn cùng nhau nữa. Quá trình cộng tác với chị H, D biết khách hàng muốn làm được thẻ có hạn mức cao thì tài khoản phải phát sinh nhiều giao dịch chuyển, nhận tiền với số lượng lớn; chị H thường chuyển tiền vào tài khoản của khách hàng rồi mới mở thẻ tín dụng cho khách hàng; D cũng phát hiện: nếu chị H chuyển tiền vào tài khoản của khách hàng mà khách hàng làm thủ tục đổi sim điện thoại để nhận mã OTP thì chị H sẽ bị mất quyền truy cập Internet Banking, khách hàng quản lý sim điện thoại mới đổi sẽ rút được tiền. Cuối năm 2020, D nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của chị H nên đã bàn bạc và thống nhất với người quen là Phùng Văn K cùng tham gia; K sẽ đóng vai là người trung gian, môi giới mở thẻ tín dụng rồi chuyển hồ sơ của khách hàng cho chị H; khi chị H chuyển tiền vào tài khoản thì DK sẽ thay đổi quyền truy cập, chiếm đoạt tiền có trong tài khoản.

Nghiêm Văn D đăng tin trên mạng Internet, quảng cáo về việc làm được thẻ tín dụng Ngân hàng với hạn mức 40.000.000 đồng/thẻ và đã có 03 khách hàng có nhu cầu làm thẻ, gồm: anh Tô Bá D1, anh Lê Đức H2 và anh Bùi Quang T5. Sau đó, D nhờ chị họ là Lê Diễm Huyền T6 (sinh năm 2000; trú tại: số nhà B, chung cư T, lô HH1- M, phường M, N, Hà Nội) đi đăng ký chính chủ các sim điện thoại số 0328.633.xxx và 0328665392 rồi đưa cho D (D không nói cho chị T6 biết mục đích). Ngoài ra, D mua 01 sim điện thoại số 0333.508.xxx với giá 1.500.000 đồng của anh Đỗ Văn T7 (sinh năm 1993; trú tại: khu M, xã H, Đ, Phú Thọ). Sau đó, D tạo lập tài khoản Z “Tuấn A1” đăng ký bằng số điện thoại 0786.663.xxx và tài khoản Z “Phan Thùy L1” (không nhớ đăng ký bằng số điện thoại nào) để liên hệ, hướng dẫn anh D1, anh H2 và anh T5 mở tài khoản tại Ngân hàng K2 (T9) có sử dụng dịch vụ Internet banking và đăng ký số điện thoại để nhận mã OTP, cụ thể: Anh D1 đăng ký mở tài khoản số 19036386908015 với số điện thoại nhận mã OTP là 0328633694; Anh H2 đăng ký mở tài khoản số 19036381561017 với số điện thoại nhận mã OTP là 0333508491; Anh T5 đăng ký mở tài khoản số 19036256097015 với số điện thoại nhận mã OTP là 0328665392.

Ngoài ra, D còn sử dụng ảnh chụp Giấy chứng minh nhân dân của anh Tô Bá D1, thuê một người không quen biết mở tài khoản số 1018220104 tại Ngân hàng cổ phần N mang tên Tô Bá D1, sử dụng dịch vụ Internet banking và nhận mã OTP bằng số điện thoại 0979.596.xxx (D mua sim này của 01 người không quen biết với giá là 500.000 đồng).

Sau khi anh D1, anh H2 và anh T5 đã mở tài khoản tại ngân hàng, D dùng tài khoản Z “Phan Thùy L1” và tài khoản Z “Tuấn A1” kết nối để nhờ chị H tư vấn mở thẻ tín dụng với hạn mức 40.000.000 đồng/thẻ. D giao tài khoản Zalo “Tuấn A1” cho K, bảo K liên hệ với anh D1, anh H2 và anh T5 để nhận hồ sơ xin mở thẻ tín dụng rồi chuyển cho chị H, kèm theo 03 chiếc điện thoại di động (Iphone 5 màu trắng bạc, Iphone 5C màu xanh và Xiaomi màu đen), lần lượt lắp các sim điện thoại số 0328.633.xxx, số 0333508491 và 0328665392, có cài đặt sẵn phần mềm ngân hàng và mật khẩu Internet Banking. Tại thời điểm này, Ngân hàng dừng làm thẻ tín dụng nên chị H từ chối nhưng K nói cứ để lại hồ sơ, khi nào làm được thì làm nên chị H đồng ý, tiếp nhận hồ sơ và các điện thoại.

Do có nhu cầu chuyển tiền với số lượng lớn mà không muốn bị vượt hạn mức nên chị H sử dụng 03 tài khoản ngân hàng của anh D1, anh H2 và anh T5 (nêu trên) để nhận và chuyển tiền; thời điểm này, chị H là người quản lý các tài khoản ngân hàng nêu trên, chị H đã thay đổi mật khẩu rồi chuyển tiền như sau:

  • Ngày 10/02/2021, chị H 02 lần dùng tài khoản số 19036028609022 mở tại Ngân hàng T9 mang tên Hoàng Thu H3 (sinh năm 1988; trú tại: số nhà G, đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; là người quen của chị H) chuyển 300.000.000 đồng đến tài khoản số 19036256097015 mang tên Bùi Quang T5. Sau đó, chị H đã chuyển đi 75.000.000 đồng, còn lại 225.000.000 đồng; chuyển số tiền 250.000.000 đồng đến tài khoản số 19036381561017 mang tên Lê Đức H2.
  • Ngày 15/02/2021, chị H dùng tài khoản số 19021263136010 mở tại Ngân hàng T9 mang tên Nguyễn Tuấn A2 (sinh năm 1976; trú tại: số nhà G, phố H, phường H, H, Hà Nội; là người quen của chị H) chuyển 1.000.000.000 đồng đến tài khoản số 19036386908015 mang tên Tô Bá D1.

Ngày 16/02/2021, sau khi gọi đến số tổng đài 1800588822 của Ngân hàng T9, D biết trong các tài khoản mang tên anh D1, anh T5 và anh H2 đều có tiền. D đã nhờ và đi cùng chị T6 đến Trung tâm Đ tại tỉnh Bến Tre báo mất sim điện thoại, xin cấp lại sim điện thoại mới với các số 0328633694 và 328665392, mục đích để nhận mã OTP tài khoản mang tên anh D1 và anh T5. Đồng thời, D nhờ anh H2 đến Ngân hàng T9 thay đổi số điện thoại nhận mã OTP sang số 0786663969 của D. Sau khi có sim điện thoại mới, D liên hệ với tổng đài Ngân hàng T9 mở khóa thẻ ATM, lắp các sim mới đổi vào chiếc điện thoại Iphone 5C có cài đặt ứng dụng của Ngân hàng T9, thực hiện việc đổi mật khẩu; truy cập vào tài khoản Intennet Banking của các tài khoản nêu trên để chiếm đoạt của chị H là 1.379.950.000 đồng; cụ thể như sau:

  • Ngày 16/02/2021, D chuyển 1.000.000.000 đồng có trong tài khoản số 19036386908015 mang tên Tô Bá D1 đến tài khoản số 1018220104 mở tại Ngân hàng V mang tên Tô Bá D1. Ngày 17/02/2021, D tiếp tục chuyển khoản tổng số tiền 985.911.000 đồng, cụ thể: Chuyển 286.500.000 đồng đến tài khoản số 0171003469884 mở tại Ngân hàng V, mang tên Nguyễn Hữu K1 (sinh năm 1964; trú tại số nhà C, đường N, phường D, quận C, thành phố Hồ Chí Minh; là chủ cửa hàng V1) để mua 05 lượng vàng SJC; Chuyển 699.411.000 đồng đến tài khoản số 0171003479459 mở tại Ngân hàng V, mang tên Lê Hữu D2 (sinh năm 1995; trú tại ấp C B, G, Tiền Giang; là chủ cửa hàng vàng bạc Ngọc Kim P1) để mua 12 lượng vàng.
  • Ngày 17/02/2021, D rút tổng số tiền 136.000.000 đồng có trong tài khoản số 19036256097015 mang tên Bùi Quang T5 tại cây ATM của Ngân hàng V và S ở tỉnh Bến Tre, còn lại 89.000.000 đồng.
  • Ngày 17/02/2021, D chuyển 243.950.000 đồng có trong tài khoản số 19036381561017 mang tên Lê Đức H2 đến tài khoản số 1018220104 mở tại Ngân hàng V mang tên Tô Bá D1. Ngày 18/02/2021, D chuyển 258.716.905 đồng đến tài khoản số 1501205063640 mở tại Ngân hàng A3 mang tên Nguyễn Thị Hoàng Y (sinh năm 1973; trú tại: số nhà D B, phường T, H, Hà Nội; là chủ cửa hàng V2) để mua vàng và tiền Đô la Mỹ.

Sau đó, D bán số vàng và tiền Đô la Mỹ nêu trên được 1.236.000.000 đồng, chi tiêu cho cá nhân khoảng 371.000.000 đồng, chia cho K là 10.000.000 đồng; D đã nhận cầm cố tài sản và cho K vay nốt 850.000.000 đồng còn lại.

2. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Phùng Văn K: Ngoài hành vi cùng với Nghiêm Văn D thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền của chị Nguyễn Thị H, Phùng Văn K còn Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo thủ đoạn thuê xe ô tô của người khác rồi thế chấp, cầm cố cho Nghiêm Văn D; khi giao các xe ô tô cho D, K đều nói dối về nguồn gốc xe và chủ xe đã đồng ý cho K thế chấp; trong trường hợp không trả được tiền đã vay, K cam kết sẽ làm thủ tục sang tên cho D bằng việc ký Hợp đồng mua, bán xe. Từ tháng 04 năm 2021 đến tháng 01 năm 2022, K đã thực hiện 03 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

Vụ thứ nhất: Do cùng làm nghề lái xe ô tô Taxi tại sân bay N nên K quen biết anh Bùi Văn T2 và biết anh T2 có chiếc xe ô tô Toyota Corolla màu trắng (biển kiểm soát 88A-391.71). Do muốn chiếm đoạt tài sản nên K đặt vấn đề thuê xe của anh T2 để sử dụng; ngày 03/4/2021, K và anh T2 ký Hợp đồng thuê chiếc xe ô tô hiệu Toyota Corolla, màu trắng, biển kiểm soát 88A-391.71, thời hạn thuê 09 tháng (từ ngày 03/4/2021 đến ngày 03/01/2022) với giá thuê là 11.000.000 đồng/tháng. Sau khi ký hợp đồng, anh T2 bàn giao xe và giấy tờ liên quan cho K, gồm: 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 5276858, 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô số 1587253 và 01 Giấy biên nhận thế chấp số 1000560364 của Công ty T10; Giấy đăng ký xe sao y bản chính. Ngay sau đó, K gặp D và nói dối chiếc xe trên do K và anh T2 mua chung để chạy taxi ở sân bay N, anh T2 đã đồng ý cho mang xe đi thế chấp để vay tiền; D nhận cầm cố xe và cho K vay là 300.000.000 đồng, K sử dụng chi tiêu hết cho cá nhân.

Vụ thứ hai: Tháng 11 năm 2021, K hỏi chị Nguyễn Thị H1 thuê chiếc xe ô tô Toyota Inova màu bạc (biển kiểm soát 29A-384.50) để sử dụng. Chị H1 đồng ý cho thuê với giá 10.000.000 đồng/tháng và không cần làm hợp đồng, giao xe cùng toàn bộ giấy tờ cho K gồm: 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 0296701, 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô số 029373 và 01 bản sao chứng thực Chứng nhận đăng ký xe. Ngay sau khi nhận xe, K nói với D chiếc xe trên do K mua lại vì không có hộ khẩu Hà Nội nên không sang tên chính chủ được; D đã nhận cầm cố và cho K vay là 220.000.000 đồng; K sử dụng chi tiêu hết cho cá nhân.

Vụ thứ ba: Tháng 01 năm 2022, K biết anh Đỗ Văn T3 (là người cùng lái taxi tại sân bay N) có nhu cầu muốn cho thuê lại chiếc xe ô tô Toyota Vios màu đen (biển kiểm soát: 30E-752.80). Do có ý định giả thuê xe để mang đi cầm cố nên K đã liên hệ với anh T3, thuê xe này với giá là 10.000.000 đồng/tháng. Do không có Căn cước công dân nên ngày 10/01/2022, K nhờ anh Trần Văn T8 (sinh năm 1987; trú tại: thôn B, xã T, S, Hà Nội) đứng tên trên hợp đồng, sử dụng Căn cước công dân và sổ hộ khẩu của anh T8 để ký Hợp đồng thuê chiếc xe trên. Anh T3 bàn giao xe cùng toàn bộ giấy tờ xe cho K, gồm: 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 1192963, 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm của chủ xe ô tô số 0277561 và 01 bản sao chứng thực Chứng nhận đăng ký xe. Ngay sau đó, K nói dối với D là anh T3 đồng ý cho K mang xe đi thế chấp để vay tiền; D nhận cầm cố xe và cho K vay là 260.000.000 đồng; K đã sử dụng chi tiêu cá nhân và bỏ trốn.

3. Tại Kết luận định giá tài sản số 240 ngày 31/10/2022 (bút lục 40) của Hội đồng định giá tài sản thuộc Ủy ban nhân dân quận Đ xác định:

  • 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios màu đen, biển kiểm soát 30E-752.80 (của anh Đỗ Văn T3) có giá trị là 379.992.000 đồng.
  • 01 xe ô tô Toyota Inova màu bạc, biển kiểm soát 29A-384.50 (của chị Nguyễn Thị H1) có giá trị là 340.320.000 đồng.
  • 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Corolla màu trắng, biển kiểm soát 88A-391.71 (của anh Bùi Văn T2) có giá trị là 742.512.000 đồng.

Đối với Trần Văn T8: kết quả điều tra xác định Phùng Văn K không bàn bạc với anh T8 về việc thuê xe để chiếm đoạt tài sản; anh T8 không được hưởng lợi gì từ việc giúp K; vì vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Trần Văn T8.

Đối với hành vi phạm tội của Nghiêm Văn D: ngày 14/7/2023 (bút lục 73- 78), Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội đã xét xử sơ thẩm và xử phạt bị cáo Nghiêm Văn D 07 năm tù về tội Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 290 Bộ luật Hình sự.

Đối với hành vi cầm cố các xe ô tô của Nghiêm Văn D: kết quả điều tra xác định khi thế chấp xe ô tô Toyota Corolla của anh T2, K nói xe này là do K và anh T2 cùng chung vốn mua trả góp ngân hàng để chạy taxi ở sân bay N, mang tên đăng ký là anh T2 và anh Thông đồng ý cho K mang xe đi thế chấp; khi thế chấp xe ô tô Toyota Inova của chị H1, K nói là xe ô tô của K mua lại và do không có hộ khẩu tại Hà Nội nên sang tên chính chủ được; khi thế chấp xe ô tô Toyota Vios màu đen của anh T3, K nói là anh T3 đã đồng ý cho K thế chấp xe để vay tiền. D khai nhận là có quan hệ thân quen với K từ trước và được K giúp đỡ nhiều trong cuộc sống nên khi thấy K gặp khó khăn và hỏi vay tiền thì D đã đồng ý cho vay, K có để lại các xe ô tô để làm tin. Vì vậy, không đủ căn cứ xử lý Nghiêm Văn D về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; ngày 07/4/2023 (bút lục 59- 61), Phòng C1- Công an Thành phố H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nghiêm Văn D về hành vi nhận cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người khác nhưng không có giấy ủy quyền hợp lệ của người đó cho người mang tài sản đi cầm cố, theo hình thức phạt tiền là 7.500.000 đồng; gia đình D đã nộp phạt thay vào ngày 24/4/2023.

Đối với trách nhiệm dân sự: chị Nguyễn Thị H bị chiếm đoạt tổng cộng là 1.379.950.000 đồng; ngày 17/5/2022 (bút lục 37- 38), chị H đã nhận bồi thường tổng cộng là 1.386.000 đồng do gia đình Nghiêm Văn D bồi thường thông qua Cơ quan điều tra nên chị H không có yêu cầu gì về dân sự đối với DK. Ngày 03/11/2022 (bút lục 33- 36) những người bị hại là anh Bùi Văn T2, chị Nguyễn Thị H1 và anh Đỗ Văn T3 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là các xe ô tô nên không có yêu cầu gì về dân sự đối với DK. Bị án Nghiêm Văn D yêu cầu K phải trả lại 850.000.000 đồng (bút lục 121- 123; 235- 236), bao gồm: 780.000.000 đồng nhận cầm cố các xe ô tô và 70.000.000 đồng vay không có thế chấp. Chị Nguyễn Ngân Phương T4 (vợ của bị án D; bút lục 320- 328) là người trực tiếp giao nộp 03 xe ô tô của các bị hại (do D nhận của K) cho Cơ quan điều tra, thay D bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại Nguyễn Thị H và không yêu cầu K phải hoàn trả 850.000.000 đồng nêu trên.

* Tại Cáo trạng số 277/CT-VKSHN-P2 ngày 10/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội truy tố Phùng Văn K về các tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 và điểm a khoản 4 Điều 290 Bộ luật Hình sự.

- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội luận tội đối với bị cáo Phùng Văn K tại phiên tòa sơ thẩm, giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, điểm a khoản 4 Điều 290, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 2 Điều 54, các Điều 38, 55 và 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phùng Văn K từ 13 năm đến 15 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, từ 06 năm đến 07 năm tù về tội Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội từ 19 năm đến 22 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • Áp dụng các Điều 47 và 48 Bộ luật Hình sự, Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự; buộc bị cáo Phùng Văn K phải hoàn trả cho bị án Nghiêm Văn D là 780.000.000 đồng; dành quyền khởi kiện vụ án dân sự khác cho bị án D và bị cáo K về tranh chấp khoản vay nợ 70.000.000 đồng.

- Người bào chữa cho bị cáo Phùng Văn K (không tranh luận về hành vi phạm tội và tội danh của bị cáo) lập luận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về việc bị cáo Phùng Văn K thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, trong đồng phạm với bị án D thì bị cáo K chỉ là đồng phạm giúp sức, vai trò không đáng kể và thu lợi bất chính không lớn (10 triệu đồng), các tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi và trả lại cho người bị hại; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ và áp dụng mức hình phạt thấp hơn quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa; đề nghị tách toàn bộ phần dân sự để bị án D và bị cáo K tự nguyện thỏa thuận hoặc khởi kiện vụ án dân sự khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Cơ quan điều tra- Công an Thành phố H và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người bào chữa, bị cáo, những người bị hại, đương sự và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Nhiều người bị hại, đương sự và người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm mặc dù đã được thông báo và triệu tập hợp lệ; xét thấy những người này đều đã có lời khai tại Cơ quan điều tra, việc họ vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử và kết án đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử ghi nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội, tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại các Điều 292 và 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Lời khai nhận của bị cáo Phùng Văn K tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của đồng phạm, những người bị hại, đương sự và những người làm chứng, phù hợp các vật chứng đã thu giữ, các kết luận giám định, định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án- Đủ cơ sở kết luận: Phùng Văn K và bị án Nghiêm Văn D đã cùng bàn bạc, phối hợp và chiếm đoạt tài sản của chị Nguyễn Thị H (cộng tác viên của Ngân hàng T9) theo cách thức: Khương đóng vai người trung gian, môi giới mở thẻ tín dụng ngân hàng và chuyển hồ sơ của khách hàng cho chị H; khi biết chị H chuyển tiền vào tài khoản của khách hàng nêu trên, D sẽ thay đổi Sim điện thoại, chiếm quyền truy cập và chiếm đoạt tiền trong tài khoản; ngày 16 và ngày 17/02/2021, DK đã chiếm đoạt 1.379.950.000 đồng của chị HK được hưởng lợi là 10.000.000 đồng. Từ ngày 03/4/2021 đến ngày 10/01/2022, Phùng Văn K sử dụng thủ đoạn thuê các xe ô tô rồi chiếm đoạt tài sản với tổng giá trị là 1.462.824.000 đồng của những người bị hại Bùi Văn T2, Nguyễn Thị H1Đỗ Văn T3; sau đó, K thế chấp cả 03 chiếc xe ô tô trên để vay của Nghiêm Văn D là 780.000.000 đồng. Hành vi của Phùng Văn K đã phạm các tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản; các tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 và điểm a khoản 4 Điều 290 Bộ luật Hình sự; Cáo trạng truy tố bị cáo K theo các tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Phùng Văn K thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của bản thân, đúng như quy kết của Cáo trạng đã nêu.

[3.1] Điều 174 Bộ luật Hình sự quy định: “1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên.”

[3.2] Điều 290 Bộ luật Hình sự quy định: “1. Người nào sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 173 và Điều 174 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...

c) Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản;

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên.”

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo Phùng Văn K là đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của nhiều người, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây nên sự bất bình, tâm lý hoang mang trong dư luận nhân dân nên cần xử phạt nghiêm minh để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

[5] Về tội danh Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bị cáo Phùng Văn K phạm tội độc lập và không có đồng phạm, thuộc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Trong đồng phạm về tội Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, bị cáo K không phải là đối tượng chủ mưu, khởi xướng và chỉ huy nhưng rất tích cực thực hành hành vi phạm tội theo sự phân công và điều hành của bị án Nghiêm Văn D nên bị cáo K là đối tượng thực hành tội phạm với vai trò đồng phạm tích cực; về tội danh này, bị cáo K không có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo K “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và “tài sản đã được thu hồi trả lại các bị hại”, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với cả 02 tội danh. Về nhân thân, bị cáo K đã bị xử phạt vi phạm hành chính ngày 20/7/2020, tuy đã đã hết thời hạn để được coi là chưa bị xử lý hành chính nhưng thể hiện là bị cáo có nhân thân xấu. Đánh giá tổng hợp về tính chát, mức độ của hành vi phạm tội, hậu quả xảy ra, vai trò tham gia trong đồng phạm, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, Hội đồng xét xử ghi nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội đề nghị tại phiên tòa về việc áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự và quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo K về tội danh Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản; tuy nhiên, bị cáo K đã bỏ trốn sau khi phạm tội và chưa bồi thường nên Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo K cao hơn đồng phạm Nghiêm Văn D về tội danh này. Hội đồng xét xử ghi nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng và mức hình phạt đối với bị cáo K về tội danh Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; quyết định tổng hợp hình phạt đối với bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự.

[6] Theo quy định tại khoản 5 Điều 174 và khoản 5 Điều 290 Bộ luật Hình sự thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung; xét bị cáo có hoàn cảnh kinh tế, gia đình khó khăn và gặp nhiều trở ngại trong quá trình thi hành án dân sự nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Phùng Văn K.

[7] Sau khi chiếm đoạt tài sản là các xe ô tô của các bị hại, bị cáo Phùng Văn K đều thế chấp cho bị án Nghiêm Văn D để vay tổng cộng là 780.000.000 đồng; kết quả điều tra xác định: bị cáo K vay tiền của bị án D, để lại các xe ô tô để làm tín và đều nói là chủ xe đã đồng ý cho K mang xe đi cầm cố, D không biết là tài sản do phạm tội mà có; bị án D khai nhận đã được bị cáo K giúp đỡ nhiều trong cuộc sống nên khi thấy K gặp khó khăn, hỏi vay tiền thì D đã đồng ý cho vay và K đã chủ động để lại 03 xe ô tô để làm tin; vì vậy, không đủ căn cứ xử lý Nghiêm Văn D về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Ngày 07/4/2023, Phòng C1- Công an Thành phố H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nghiêm Văn D về hành vi nhận cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người khác nhưng không có giấy ủy quyền hợp lệ của người đó cho người mang tài sản đi cầm cố là có căn cứ; Cáo trạng không truy tố nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Những người bị hại trong vụ án (chị Nguyễn Thị H, anh Bùi Văn T2, chị Nguyễn Thị H1 và anh Đỗ Văn T3) đều đã nhận bồi thường thiệt hại về tài sản hoặc nhận lại các xe ô tô bị chiếm đoạt nên đều không yêu cầu gì về dân sự; vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét về trách nhiệm bồi thường dân sự trong vụ án.

[8.1] Quá trình điều tra, bị án Nghiêm Văn D có yêu cầu bị cáo K phải trả lại 850.000.000 đồng đã vay nợ; chị Nguyễn Ngân Phương T4 (vợ bị án D) là người trực tiếp giao nộp 03 xe ô tô để Cơ quan điều tra trả lại các bị hại, thay mặt bị án D bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại Nguyễn Thị H và không yêu cầu bị cáo K phải hoàn trả 850.000.000 đồng nêu trên. Tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự Nghiêm Văn DNguyễn Ngân Phương T4 đều vắng mặt nên chưa đủ cơ sở xác định rõ ý chí và quan điểm của vợ chồng D, T4; vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định dành quyền khởi kiện vụ án dân sự khác cho các đương sự và bị cáo K theo quy định tại Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự về nội dung này.

[8.2] Trong đồng phạm về tội Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, bị cáo K được chia hưởng là 10.000.000 đồng; bị cáo K không phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường hoặc hoàn trả tài sản có liên quan đến 10.000.000 đồng này nên số tiền này được xác định là khoản thu lợi bất chính của bị cáo; vì vậy, cần buộc bị cáo Phùng Văn K phải truy nộp để nộp vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

[8.3] Việc xử lý vật chứng đã được giải quyết theo Bản án đã có hiệu lực pháp luật số 292/2023/HS- ST ngày 14/7/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội; nay không có tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét về xử lý vật chứng.

[9] Bị cáo Phùng Văn K phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo và người bị hại, đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phùng Văn K phạm các tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.

  • Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, điểm a khoản 4 Điều 290, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 2 Điều 54, điểm a khoản 1 Điều 55, các Điều 38 và 58 Bộ luật Hình sự;
  • Xử phạt bị cáo Phùng Văn K 13 (mười ba) năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và 08 (tám) năm tù về tội Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản; tổng hợp hình phạt chung, buộc bị cáo Phùng Văn K phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là 21 (hai mươi mốt) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/02/2024.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phùng Văn K.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; căn cứ Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Những người bị hại đã nhận bồi thường thiệt hại về tài sản hoặc nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu gì về bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét về bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm.
  • Dành quyền khởi kiện vụ án dân sự khác cho bị án Nghiêm Văn D, đương sự Nguyễn Ngân Phương T4 và bị cáo Phùng Văn K đối với tranh chấp về hoàn trả 780.000.000 đồng và đòi nợ 70.000.000 đồng.

3. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;

Buộc bị cáo Phùng Văn K phải truy nộp 10.000.000 đồng đã thu lợi bất chính để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

4. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Phùng Văn K phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Bị cáo Phùng Văn K và người bị hại Đỗ Văn T3 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
  • Những người bị hại là chị Nguyễn Thị H, anh Bùi Văn T2 và chị Nguyễn Thị H1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  • Các đương sự là bị án Nghiêm Văn D và chị Nguyễn Ngân P2 Tuyền có quyền kháng cáo phần Bản án có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND Thành phố Hà Nội (P2);
  • - Công an TP Hà Nội (PC02- Đ9);
  • - Cục THADS Thành phố Hà Nội;
  • - Bị cáo; bị hại; đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

PHẠM NĂNG THÀNH

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 431/2024/HS-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 431/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phùng Văn K
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger