Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:431/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 20/6/2025

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Võ Việt Nam.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Giữ và Ông Lê Cao Trí.

Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Trân là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Vũ- Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 196/2025/TLST.HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2025, việc tranh chấp ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 447/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 475/2025/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, giữa:

  1. Nguyên đơn: Bà Trương Tuyết L, sinh năm 1997. CMND/CCCD/Hộ chiếu số: [...]. Địa chỉ: khóm P, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang.
  2. Bà Trương Tuyết L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

  3. Bị đơn: Ông Đinh Văn P, sinh năm 1993. CMND/CCCD/Hộ chiếu số: [...]. Vắng mặt. Địa chỉ: tổ B, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.
  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trương Tuyết L1, sinh năm 1991. Vắng mặt.
  5. Địa chỉ: khóm P, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trương Tuyết L trình bày và có ý kiến như sau:

Về hôn nhân: Giữa bà Trương Tuyết L và ông Đinh Văn P do tự quen biết nhau và tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2017, không có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số: 26 ngày 13/02/2017 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, cự cải, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, cả hai không có tiếng nói chung, mặc dù cả hai đã nhiều lần tìm cách hàn gắn nhưng vẫn không khắc phục được và đã ly thân từ tháng 9 năm 2022 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm của vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Trương Tuyết L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Đinh Văn P.

Về con chung: Có 01 (một) con chung chưa thành niên tên Đinh Văn S, sinh ngày 21/7/2018, hiện cháu S đang sống chung với bà Trương Tuyết L. Khi ly hôn, bà Trương Tuyết L yêu cầu được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng con chung chưa thành niên tên Đinh Văn S, sinh ngày 21/7/2018 và không yêu cầu ông Đinh Văn P cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Bà Trương Tuyết L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Vào năm 2019, bà Trương Tuyết L và ông Đinh Văn P có mượn của bà Trương Tuyết L1 số tiền 14.000.000 đồng và 01 chỉ vàng 24kara. Nay bà Trương Tuyết L yêu cầu bà và ông P phải có trách nhiệm trả nợ cho bà L1. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án, do không có mặt của ông Đinh Văn P và bà Trương Tuyết L1 nên bà Trương Tuyết L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Đinh Văn P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Tuyết L1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng bị đơn ông Đinh Văn P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Tuyết L1 không có văn bản thể hiện ý kiến gửi cho Tòa án và không có mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán cho đến việc diễn biến tại phiên tòa của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh trụng. Tòa án nhân dân huyện Châu Phú nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Phiên tòa được mở lần thứ hai nhưng nguyên đơn bà Trương Tuyết L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ghi ngày 30/5/2025, với nội dung đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bà Trương Tuyết L. Bị đơn ông Đinh Văn P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Tuyết L1 đã được Tòa án triệu tập dự phiên tòa đúng theo quy định Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nhưng ông Đinh Văn P và bà Trương Tuyết L1 vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Trương Tuyết L, ông Đinh Văn P và bà Trương Tuyết L1.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Giữa bà Trương Tuyết L và ông Đinh Văn P là hôn nhân hợp pháp bởi ông bà có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Xem xét yêu cầu ly hôn của bà Trương Tuyết L, Hội đồng xét xử nhận thấy trong cuộc sống vợ chồng của ông bà đã không còn hạnh phúc, do một bên không còn tình cảm, đã có khoảng thời gian ly thân, cả hai có những mâu thuẫn mà không thể hàn gắn được do giữa ông bà không có sự cảm thông cho nhau. Trong quá trình Tòa án xem xét giải quyết vụ án, ông Đinh Văn P không cung cấp ý kiến và không đến Tòa án tham dự phiên hòa giải, phiên tòa thể hiện chưa có sự quan tâm đối với yêu cầu ly hôn của bà Trương Tuyết L. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân của ông bà đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà Trương Tuyết L là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, bà Trương Tuyết L được ly hôn với ông Đinh Văn P.

[2.2] Về quan hệ con chung: Theo giấy khai sinh của Đinh Văn S, lời trình bày của bà Trương Tuyết L thì bà và ông Đinh Văn P có con chung chưa thành niên Đinh Văn S, sinh ngày 21/7/2018, hiện bà Trương Tuyết L đang nuôi dưỡng, chăm sóc.

Xét thấy, con chung được bà Trương Tuyết L giáo dục, chăm sóc, nuôi dưỡng để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển về mọi mặt của các cháu, tạo điều kiện cho các cháu được ổn định về tâm sinh lý, chỗ ở, sinh hoạt và học tập nên bà Trương Tuyết L yêu cầu được nuôi con là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, giao con chung chưa thành niên tên Đinh Văn S, sinh ngày 21/7/2018 cho bà Trương Tuyết L được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng. Ông Đinh Văn P có quyền và nghĩa vụ thăm nom con. Bà Trương Tuyết L và các thành viên trong gia đình của bà Trương Tuyết L không được cản trở ông Đinh Văn P thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Bà Trương Tuyết L không yêu cầu về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

[2.3] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Bà Trương Tuyết L trình bày giữa bà và ông Đinh Văn P về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết và nợ chung vào năm 2019, bà L và ông P có mượn của bà Trương Tuyết L1 số tiền 14.000.000 đồng và 01 chỉ vàng 24kara do trong quá trình giải quyết vụ án, ông Đinh Văn P và bà Trương Tuyết L1 không có mặt nên bà Trương Tuyết L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay do không có mặt của ông Đinh Văn P và bà Trương Tuyết L1 để đối chất làm rõ các mối quan hệ này nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết. Nếu đương sự có tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.

[3] Về án phí: Bà Trương Tuyết L là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 143, khoản 4 Điều 147, Điều 179, Điều 186, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 83 và khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trương Tuyết L và ông Đinh Văn P.

Giấy chứng nhận kết hôn giấy chứng nhận kết hôn số: 26 ngày 13/02/2017 do Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho bà Trương Tuyết L và ông Đinh Văn P không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.

2.Về quan hệ nuôi con: Có 01 (một) con chung chưa thành niên tên Đinh Văn S, sinh ngày 21/7/2018.

2.1.Giao con chung chưa thành niên tên Đinh Văn S, sinh ngày 21/7/2018 cho bà Trương Tuyết L được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng.

Ông Đinh Văn P có quyền và nghĩa vụ thăm nom con. Bà Trương Tuyết L và các thành viên trong gia đình của bà Trương Tuyết L không được cản trở ông Đinh Văn P thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2.2. Bà Trương Tuyết L không yêu cầu về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Bà Trương Tuyết L trình bày tài sản chung và nợ chung giữa bà và ông Đinh Văn P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.

4. Về án phí: Bà Trương Tuyết L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009575 ngày 03 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Bà Trương Tuyết L đã nộp đủ.

5. Về quyền kháng cáo: Bà Trương Tuyết L, ông Đinh Văn P và bà Trương Tuyết L1 vắng mặt, thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Giữ

Nguyễn Võ Việt Nam

Lê Cao Trí

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Châu Phú;
  • - Chi Cục THADS huyện Châu Phú;
  • - UBND xã Mỹ Đức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, Vp./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Võ Việt Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 431/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 431/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger