|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 431/2024/HS-PT Ngày 31-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Văn Khương |
| Các Thẩm phán: | Ông Lê Văn An |
| Ông Trần Văn Đạt. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy Tiên - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhàn - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử trực tuyến (Cầu Trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại TP HCM - Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh) phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 194/2024/TLPT-HS ngày 29 tháng 02 năm 2024, đối với:
- Bị cáo: Trần Trung D (tên gọi khác: D đen, Trần Đăng K), sinh năm 1980 tại tỉnh Tiền Giang.
Đăng ký thường trú: số B, đường H, Phường E, thị xã G, tỉnh Tiền Giang; Chỗ ở hiện nay: ấp B, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Thợ cơ khí; Trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn B, sinh năm 1937 (đã chết) và bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1937 (đã chết); Bị cáo có vợ là Võ Thị Thu P, sinh năm 1985 và có 01 con, sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ ngày 26/4/2023, đến ngày 29/4/2023 chuyển tạm giam (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Dương Phúc H, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).
- Bị hại:
- Ngô Văn H1, sinh năm 1987; Địa chỉ: ấp N, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).
- Lê Chí C, sinh năm 1980; Địa chỉ: ấp N, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Đào Trung H2, sinh năm 1992. Địa chỉ: Ấp L, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).
- Anh Phạm Nhật M, sinh năm 1987. Địa chỉ: Khu phố A, phường E, thị xã G, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).
- Anh Nguyễn Hoàng H3, sinh năm 1985. Địa chỉ: Khu phố B, phường E, thị xã G, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).
- Chị Võ Thị Thu P, sinh năm 1985. Địa chỉ: Ấp B, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
- Anh Nguyễn Trọng T, sinh năm 1969. Địa chỉ: Số B, khu phố A, đường H, phường E, thị xã G, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).
- Người có kháng cáo: Bị cáo Trần Trung D.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ ngày 04/3/2008, trên đường đi uống rượu bia về Nguyễn Hoàng H3 (tên gọi khác Ở) sinh năm 1985, cư trú khu phố B, Phường E, thị xã G, tỉnh Tiền Giang; Lê Thanh H4 (tên gọi khác T1), sinh năm 1987, cư trú ấp C, xã L, thị xã G, tỉnh Tiền Giang; Nguyễn Thoại Minh S, sinh năm 1989, cư trú số E, khu phố A, Phường E, thị xã G, tỉnh Tiền Giang; cùng Trần Trung D gặp Đào Trung H2, sinh năm 1992, cư trú ấp L, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang, và Phạm Nhật M, sinh năm 1987, cư trú khu phố A, Phường E, thị xã G, tỉnh Tiền Giang, tại ngã tư đường V giao nhau với đường T, thuộc Phường E, thị xã G, tỉnh Tiền Giang. M kêu Hoàng H3 và cả nhóm đến quán T2 ở khu phố B, Phường E, thị xã G, tỉnh Tiền Giang để rủ nữ tiếp viên cùng đi uống rượu bia, cả nhóm đồng ý. M chạy xe đến quán T2 rồi trở lại nói ở quán có nhóm thanh niên nên các tiếp viên nữ không dám đi. Hoàng H3 kêu D về nhà lấy “hàng” (tức mã tấu), đồng thời Hoàng H3 đi vào nhà mình lấy một con dao. Sau đó, D đến đưa cho Hoàng H3 hai cây mã tấu, Hoàng H3 giữ lấy một cây mã tấu, đưa cho S một cây mã tấu, đưa cho H4 một cây mã tấu. Cả nhóm đến quán T2, Hoàng H3 cầm mã tấu cùng với M vào quán, Hoàng H3 nói: “Thằng nào quậy?”. Lúc này chị Giảng Thị S1 (chủ quán), sinh năm 1979, cư trú khu phố B, Phường E, thị xã G, tỉnh Tiền Giang, đến can ngăn nên cả nhóm của Hoàng H3 quay lại địa điểm trên. Hoàng H3 nói với D trong nhóm thanh niên đang ngồi ở quán có một người giống thằng “Cốt quỷ” trước đây có mâu thuẫn với H4 và Hoàng H3, kêu cả nhóm trở lại chém trả thù cho H4, tất cả đồng ý. Khi đi T chở Hoàng H3, H5 chở S, D chở H4, mã tấu và dao Hoàng H3, S, H4 để trên yên xe rồi ngồi lên. M điều khiển xe đi một mình. Khi đến quán, H5, D, Trung H2, M đứng bên ngoài đợi, Hoàng H3, H4, S cầm dao và mã tấu xông vào quán. Hoàng Hiếu đến bàn Ngô Văn H1, sinh năm 1987, và Lê Chí C, sinh năm 1980, cùng cư trú ấp N, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang, cùng hai người bạn đang ngồi uống cà phê, Hoàng H3 không nói gì dùng mã tấu chém từ trên xuống trúng vào ghế sắt gần chỗ C ngồi, C, H1 và nhóm bạn bỏ chạy; Hoàng H3 đuổi theo H1 chém nhiều nhát vào đầu, H1 dùng hai tay ôm vào đầu nên bị thương tích ở vùng đầu và tay, H4 cầm dao rượt theo C chém nhiều nhát vào đầu, C chạy vào phòng gần quầy nước thì S đuổi theo dùng mã tấu chém tiếp nhiều nhát vào đầu, khi chém C đưa tay lên đỡ nên bị thương tích ở đầu và tay. Trong lúc này, D kêu về, nên Hoàng H3, H4, S đi lên xe chạy chở về.
Các đồng phạm khác đã bị xử lý trách nhiệm hình sự. Riêng bị cáo D sau khi gây án đã bỏ trốn lên Thành phố Hồ Chí Minh và thay đổi tên họ thành Trần Đăng K, sinh ngày 20/6/1983, cư trú ấp B, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Đến ngày 26/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã bắt truy nã D.
Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 351-08/TgT-PY ngày 19/8/2008 của Trung tâm Pháp y tỉnh T, đối với ông Ngô Văn H1 là: Sẹo vết thương mặt lưng bàn tay trái và chẩm thái dương trái. Gãy xương bàn V. Đứt gân duỗi ngón 4,5 tay trái. Cứng khớp bàn ngón 4,5 tay trái. Di chứng co rút ngón II, III bàn tay trái. Sẹo vết thương ô mô cái tay phải và vùng cổ trái. Sức khỏe bị giảm do thương tích gây nên là 16%.
Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 352-08/TgT-PY ngày 19/8/2008 của Trung tâm Pháp y tỉnh T đối với ông Lê Chí C có kết quả như sau: Sẹo vết thương giữa trán, thái dương và khuỷu trái. Mất đốt xa ngón IV tay phải. Sức khỏe bị giảm do thương tích gây nên là 11%.
Tại bản Cáo trạng số 57/CT-VKSTG-P2 ngày 31 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang đã truy tố bị cáo Trần Trung D về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Bản án Hình sự sơ thẩm số: 02/2024/HS-ST ngày 19 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang, đã tuyên xử:
Áp dụng: điểm n, khoản 1, Điều 93; điểm b, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999; Điều 57 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Trần Trung D 10 (mười) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/4/2023.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 28 tháng 01 năm 2024, bị cáo Trần Trung D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
* Tại phiên toà phúc thẩm:
Người bào chữa cho bị cáo D có ý kiến: Sau khi bị bắt lại bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho các bị hại, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo có nhân thân tốt, vai trò giúp sức, phạm tội chưa đạt, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận: Khoảng 22 giờ ngày 04/3/2008, trên đường đi uống rượu bia về Nguyễn Hoàng H3 (tên gọi khác Ớ), Lê Thanh H4 (tên gọi khác T1), Nguyễn Thoại Minh S, Trần Trung D, Đào Trung H2 và Phạm Nhật M, đến quán T2 ở khu phố B, Phường E, thị xã G, tỉnh Tiền Giang để rủ nữ tiếp viên cùng đi uống rượu bia, cả nhóm đồng ý. M chạy xe đến quán T2 rồi trở lại nói ở quán có nhóm thanh niên nên các tiếp viên nữ không dám đi. Hoàng H3 kêu D về nhà lấy “hàng” (tức mã tấu), đồng thời Hoàng H3 đi vào nhà mình lấy một con dao. Sau đó, D đến đưa cho Hoàng H3 02 cây mã tấu, Hoàng H3 giữ lấy một cây mã tấu, đưa cho S một cây mã tấu, đưa cho H4 01 cây mã tấu. Sau đó Hoàng H3 dùng mã tấu chém từ trên xuống trúng vào ghế sắt gần chỗ C ngồi, C, H1 và nhóm bạn bỏ chạy; Hoàng H3 đuổi theo H1 chém nhiều nhát vào đầu, H1 dùng hai tay ôm vào đầu nên bị thương tích ở vùng đầu và tay, H4 cầm dao rượt theo C chém nhiều nhát vào đầu, C chạy vào phòng gần quầy nước thì S đuổi theo dùng mã tấu chém tiếp nhiều nhát vào đầu, khi chém C đưa tay lên đỡ nên bị thương tích ở đầu và tay.
[2]. Xét hành vi của bị cáo D, tuy không trực tiếp ra gây thương tích cho bị hại, nhưng bị cáo là người đã chuẩn bị mã tấu, sau đó đi cùng để giúp sức về tinh thần cho các đồng phạm khác chém vào nơi xung yếu trên cơ thể của bị hại, có khả năng làm bị hại tử vong. Nhưng bị hại không chết là ngoài sự mong muốn của các đồng phạm và bị cáo D. Hành vi của bị cáo D là hành vi giúp sức, nhưng cũng rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền được sống của bị hại, đã phạm vào tội Giết người theo quy định tại điểm n, khoản 1, Điều 93 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã bỏ trốn, thay tên đổi họ để trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật, do đó cần thiết xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh để răn đe giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
[3]. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường một phần cho người bị hại, xử phạt bị cáo 10 năm tù về tội Giết người là không nặng. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không đưa ra được tình tiết giảm nhẹ nào khác nên không có căn cứ chấp nhận.
[4]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ chấp nhận.
[5]. Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, là không có căn cứ chấp nhận.
[6]. Về án phí hình sự phúc thẩm, do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu.
[7]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Trung D.
- Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 02/2024/HS-ST ngày 19 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
Tuyên bố bị cáo Trần Trung D phạm tội “Giết người”.
Áp dụng: điểm n, khoản 1, Điều 93; điểm b, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999; Điều 57 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Trần Trung D 10 (mười) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/4/2023.
- Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Trung D phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Khương |
Bản án số 431/2024/HS-PT ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - giết người
- Số bản án: 431/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Giết người
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Trung D phạm tội Giết người
