|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 431/2024/DS-PT Ngày: 16/5/2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Việt Hồng
Các Thẩm phán: Ông Trương Văn Hiển
Bà Lê Thị Ngọc Hương
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Thế Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Nguyễn Thị Lý – Kiểm sát viên.
Vào ngày 16 tháng 05 năm 2024 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 33/DSPT ngày 08 tháng 04 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 62/2024/DS-ST ngày 12 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2117/2024/QĐXXPT-DS ngày 22 tháng 4 năm 2024; giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Liên Tân T, sinh năm: 1994;
Địa chỉ: 1 N, phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Yến T1, sinh năm: 1959;
Địa chỉ: A L B, Phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo Giấy ủy quyền công chứng 0013372 quyển số 01/2022.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 02/11/2022 tại Văn phòng C).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1975;
Địa chỉ: 36/70/2 đường D, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện ủy quyền của bị đơn: Ông Bùi Thanh T2, sinh năm: 1994;
Địa chỉ: F N, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo giấy ủy quyền công chứng số 003055 quyển số 06/2023.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/6/2023 tại Văn phòng C1).
Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai của bà Nguyễn Thị Yến T1 là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Liên Tân T trình bày:
Ông Liên Tân T có cho ông Nguyễn Văn N vay nhiều lần với tổng số tiền là 4.800.000.000 đồng, cụ thể như sau:
- - Ngày 18/11/2021, ông N vay số tiền 300.000.000 đồng;
- - Ngày 28/11/2021 ông N vay số tiền 600.000.000 đồng;
- - Ngày 23/12/2021 ông N vay số tiền 1.000.000.000 đồng;
- - Ngày 04/03/2022 ông N vay số tiền 1.300.000.000 đồng;
- - Ngày 07/4/2022 ông N vay số tiền 1.600.000.000 đồng.
Nay nguyên đơn ông Liên Tân T yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Văn N trả số tiền là 4.800.000.000 đồng, trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, nguyên đơn không yêu cầu tiền lãi.
Theo bản tự khai của bị đơn ông Bùi Thanh T2 và người đại diện theo ủy quyền của ông T2 trình bày tại phiên tòa sơ thẩm trình bày:
Đại diện cho bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không đúng sự thật. Thực tế số tiền ông N vay ông T2 không lên tới 4.800.000.000 đồng. Ông N chỉ vay của ông T2 số tiền là 1.200.000.000 đồng và ông N đã trả cho ông T2 800.000.000 đồng chỉ còn thiếu lại 400.000.000 đồng.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 62/2024/DS-ST ngày 12 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Liên Tân T.
- Buộc ông Nguyễn Văn N phải trả cho ông Liên Tân T số tiền 4.800.000.000 (bốn tỷ, tám trăm triệu) đồng, trả làm một lần ngay khi án đã có hiệu lực pháp luật. Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Ghi nhận việc nguyên đơn không yêu cầu bị đơn phải trả tiền lãi.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn ông Nguyễn Văn N có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm số 62/2024/DS-ST ngày 12 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền cho bị đơn đều có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt. Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm vụ án:
- Về hình thức: Thẩm phán và Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến diễn biến phiên tòa phúc thẩm, các đương sự thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 62/2024/DS-ST ngày 12 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét thẩm tra, kết quả hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự, ý kiến của kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
- Về hình thức:
- Ông Nguyễn Văn N nộp đơn kháng cáo đúng thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Đại diện theo ủy quyền cho bị đơn cũng là người kháng cáo và đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn đều có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
- Về nội dung:
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua phần trình bày của nguyên đơn và thừa nhận của bị đơn thể hiện: Ông Nguyễn Văn N có ký vào tất cả giấy vay tiền nhiều lần của ông T, tổng số tiền vay là 4.800.000.000 đồng. Chữ ký trong tất cả giấy vay tiền ông N đều thừa nhận là của mình. Ông N cho rằng thực tế ông chỉ vay của ông T số tiền là 1.200.000.000 đồng, ông N đã trả cho ông T số tiền là 800.000.000 đồng, số tiền ông N còn thiếu lại ông T là 400.000.000 đồng. Tuy nhiên, ông N không cung cấp được tài liệu, chứng cứ cho lời trình bày của mình là có cơ sở.
Từ những phân tích và nhận định trên, có cơ sở xác định ông Nguyễn Văn N có vay của ông T nhiều lần tổng số tiền vay là 4.800.000.000 đồng và có ký xác nhận vào toàn bộ giấy vay tiền. Căn cứ Điều 466 Bộ luật dân sự 2015. Ông Liên Tân T yêu cầu ông Nguyễn Văn N có nghĩa vụ trả toàn bộ số tiền đã vay là 4.800.000.000 đồng là có căn cứ chấp nhận. Do đó kháng cáo của ông Nguyễn Văn N không có cơ sở chấp nhận.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Liên Tân T không yêu cầu ông Nguyễn Văn N trả lãi đối với toàn bộ khoản vay trên.
Từ những phân tích và nhận định trên. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn N.
Ông Nguyễn Văn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 112.800.000 đồng. H lại cho ông Liên Tân T số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 56.400.000 đồng theo biên lai thu số AA/2022/0019063 ngày 16/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Do yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn N không được chấp nhận nên ông N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng.
Chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 62/2024/DS-ST ngày 12 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, giữ quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Liên Tân T.
- Buộc ông Nguyễn Văn N phải trả cho ông Liên Tân T số tiền 4.800.000.000 (bốn tỷ, tám trăm triệu) đồng, trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Ghi nhận việc nguyên đơn không yêu cầu bị đơn phải trả tiền lãi.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Việc thực hiện các nội dung của quyết định nêu trên được thực hiện sau khi bản án có hiệu lực pháp luật tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành khoản tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
Ông Nguyễn Văn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 112.800.000 đồng. H lại cho ông Liên Tân T số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 56.400.000 đồng theo biên lai thu số AA/2022/0019063 ngày 16/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Do yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn N không được chấp nhận nên ông N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng. Được cấn trừ vào số tiền tạm ứng phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lại thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0018532, ngày 24/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Văn N đã nộp đủ án phí dân sư phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự (Sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Việt Hồng |
Bản án số 431/2024/DS-PT ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 431/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
