TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 4305/2024/DS-ST. Ngày: 12/9/2024. V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Danh Đời.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thế Hùng;
Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc B – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai Vụ án dân sự thụ lý số 26/2023/TLST-DS ngày 10/01/2023 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5529/2024/QĐXXST-DS ngày 17/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 6609/2024/QÐST-DS ngày 13/8/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N1. Địa chỉ trụ sở: B L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn N. Địa chỉ: I đường Đ, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, (có mặt).
- Bị đơn: Ông Hoàng C, sinh năm 1995; Căn cước công dân số: [...]. Địa chỉ: Căn hộ A Chung cư N, Tổ dân phố X, phường X, quận B, Thành phố Hà Nội, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo Đơn khởi kiện, B1 tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn - Ngân hàng N1 (sau đây gọi là Ngân hàng A) trình bày: Ngày 16/6/2020, Ngân hàng A (Chi nhánh Đ1) có cấp tín dụng cho ông Hoàng C theo Hợp đồng tín dụng số 6280-LAV-202000916, số tiền vay 2.000.000.000 đồng, mục đích sử dụng vốn vay: Hoàn thanh toán tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thời hạn cho vay: 240 tháng (kể từ ngày tiếp theo liền kề của ngày đầu tiên giải ngân), lãi suất cho vay: Theo quy định của Ngân hàng A, có điều chỉnh; mức lãi suất 9,5%/năm tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng; phương thức trả gốc: Định kỳ 6 tháng/01 kỳ vào ngày 25 tháng cuối kỳ, mỗi kỳ trả 50.000.000 đồng, kỳ cuối trả hết nợ.
Khoản vay nêu trên được đảm bảo bằng tài sản là: Thửa đất số 621, Tờ bản đồ 07, ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS08672 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 08/01/2019, cập nhật chủ sở hữu cho ông Hoàng C ngày 24/5/2019).
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông C đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Mặc dù Ngân hàng A đã tiến hành cơ cấu nợ do ảnh hưởng của dịch Covid-19, tuy nhiên đến kỳ hạn trả nợ gốc (ngày 30/6/2022) và kỳ hạn trả lãi (27/6/2022) nhưng ông C đã không thực hiện theo đúng thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng đã ký, vậy nên toàn bộ hai khoản nợ vay nêu trên đã chuyển sang nợ quá hạn kể từ ngày 27/6/2022. Tổng nợ gốc và lãi tạm tính đến hết ngày 31/10/2022 của khoản vay trên là: 2.150.069.863 đồng, trong đó nợ gốc là 1.900.000.000 đồng, lãi trong hạn là 248.366.438 đồng, lãi quá hạn là 1.703.425 đồng. Do đó, Ngân hàng A khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- + Buộc ông Hoàng C phải thanh toán cho Ngân hàng A tổng nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 31/10/2022 là: 2.150.069.863 đồng, trong đó nợ gốc là 1.900.000.000 đồng, lãi trong hạn là 248.366.438 đồng, lãi quá hạn là 1.703.425 đồng. Buộc ông C phải tiếp tục chịu lãi phát sinh kể từ ngày 01/11/2022 tính theo lãi suất được thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi trả dứt nợ; buộc ông C phải chịu các chi phí phát sinh trong suốt quá trình tố tụng.
- + Trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm là: Toàn bộ quyền sử dụng đất đối với Thửa đất số 621, Tờ bản đồ 07, ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS08672 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 08/01/2019, cập nhật chủ sở hữu cho ông Hoàng C ngày 24/5/2019) để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật. Trường hợp sau khi phát mãi tài sản đảm bảo vẫn không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bị đơn vẫn phải chịu trách nhiệm đối với khoản nợ còn lại đối với nguyên đơn.
- Bị đơn - ông Hoàng C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm nhưng vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa:
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Nguyên đn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử: Buộc bị đơn phải thanh toán cho Ngân hàng A tổng nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 12/9/2024 là: 2.538.034.521 đồng, trong đó nợ gốc là 1.900.000.000 đồng, lãi trong hạn là 616.982.055 đồng, lãi quá hạn là 21.052.466 đồng. Buộc bị đơn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh kể từ ngày 13/9/2024 tính theo lãi suất được thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi trả dứt nợ.
Trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm là: Toàn bộ quyền sử dụng đất đối với Thửa đất số 621, Tờ bản đồ 07, ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS08672 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 08/01/2019, cập nhật chủ sở hữu cho ông Hoàng C ngày 24/5/2019)thu hồi nợ theo quy định của pháp luật. Trường hợp sau khi phát mãi tài sản đảm bảo vẫn không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bị đơn vẫn phải chịu trách nhiệm đối với khoản nợ còn lại đối với nguyên đơn. Ngoài ra, Ngân hàng A đề nghị Tòa án buộc bị đơn phải hoàn trả lại chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền 15.000.000 đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- + Về tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và những người tham gia tố tụng chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- + Về quan điểm giải quyết vụ án: Do bị đơn đã vi phạm các nghĩa vụ trong Hợp đồng tín dụng, không thanh toán các khoản nợ đến hạn và lãi suất phát sinh theo quy định, do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn tổng nợ gốc và lãi tính đến ngày 12/9/2024 là: 2.538.034.521 đồng, trong đó nợ gốc là 1.900.000.000 đồng, lãi trong hạn là 616.982.055 đồng, lãi quá hạn là 21.052.466 đồng; đồng thời tiền lãi sẽ tiếp tục phát sinh trên số tiền nợ chưa thanh toán tính theo lãi suất trong Hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết kể từ ngày 13/9/2024 đến khi bị đơn trả hết nợ; trường hợp bị đơn không thanh toán hoặc thanh toán không đủ khoản nợ phải trả, thì nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm theo quy định; buộc bị đơn hoàn trả chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ cho nguyên đơn; bị đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án:
Xét thấy, nguyên đơn – Ngân hàng A khởi kiện bị đơn – ông Hoàng C yêu cầu thanh toán các khoản nợ, lãi suất phát sinh từ Hợp đồng tín dụng hai bên đã ký kết, do đó tranh chấp giữa hai bên xuất phát từ hợp đồng tín dụng nên quan hệ tranh chấp của vụ án được xác định là “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Tại Hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về thẩm quyền giải quyết vụ án là nơi có trụ sở của nguyên đơn, do đó căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
[2] Về thủ tục tố tụng:
- Các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự không yêu cầu Tòa án xem xét về thời hiệu khởi kiện, do đó căn cứ khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, vụ án được thụ lý giải quyết theo thủ tục chung mà không xem xét đến vấn đề thời hiệu.
- Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn, tuy nhiên bị đơn vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt, do đó căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.
[3] Về Hợp đồng tín dụng số 6280-LAV-202000916 ngày 16/6/2020 (sau đây gọi là Hợp đồng tín dụng), Hợp đồng thế chấp số: 6280-LCP-201901150 ngày 28/5/2019 (sau đây gọi là Hợp đồng thế chấp).
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và lời trình bày của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Nguyên đơn và bị đơn có ký kết Hợp đồng tín dụng số 6280-LAV-202000916 ngày 16/6/2020, số tiền vay 2.000.000.000 đồng; mục đích vay: Hoàn thanh toán tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất; thời hạn vay: 240 tháng;... Khoản vay trên được đảm bảo theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 6280-LCP-201901150 ngày 28/5/2019, thế chấp Quyền sử dụng đất đối với Thửa đất số 621, Tờ bản đồ 07, ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
Xét Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp nêu trên được các bên ký kết có hình thức đúng quy định, nội dung không vi phạm điều cấm của pháp luật, các bên tự nguyện ký kết nên phù hợp với quy định tại các Điều 319, 320, 321, 322, 323, 463 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 4, Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 (sửa đổi, bổ sung 2017); Điều 12 Luật Ngân hàng N2 2010, do đó các văn bản trên có giá trị pháp lý, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên.
[4] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[4.1] Đối với yêu cầu buộc bị đơn thanh toán tiền nợ gốc.
Thực hiện hợp đồng tín dụng nêu trên, nguyên đơn đã giải ngân toàn bộ số tiền vay 2.000.000.000 đồng cho bị đơn. Quá trình thực hiện hợp đồng, mặc dù nguyên đơn đã thực hiện việc cơ cấu nợ do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nhưng đến kỳ hạn trả nợ gốc (ngày 30/6/2022) và kỳ hạn trả lãi (27/6/2022) bị đơn vẫn không thực hiện thanh toán theo đúng thỏa thuận, do đó nguyên đơn đã chuyển toàn bộ khoản vay nêu trên của bị đơn sang nợ quá hạn kể từ ngày 27/6/2022. Tính đến ngày 12/9/2024, bị đơn chỉ mới thanh toán số tiền 292.082.876 đồng, trong đó thanh toán nợ gốc 100.000.000 đồng, trả lãi phát sinh 192.082.876 đồng. Như vậy, dư nợ gốc còn lại là 1.900.000.000 đồng nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả là có căn cứ, phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015, khoản 1 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 (sửa đổi, bổ sung 2017) nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4.2] Đối với yêu cầu buộc bị đơn thanh toán các khoản tiền nợ lãi.
Xét thấy, quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ lãi trong hạn và làm phát sinh nợ quán hạn. Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 của hợp đồng tín dụng quy định “mức lãi suất cho vay là 9,5%/năm, có điều chỉnh định kỳ tối thiểu 03 tháng một lần” và “lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn”. Tại khoản 2 Điều 2 Hợp đồng tín dụng quy định “lãi trên dư nợ gốc trong hạn = số dư nợ gốc trong hạn x số ngày dư nợ trong hạn x lãi suất cho vay trong hạn : 365 ngày”, “tiền lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn = số dư nợ gốc bị quá hạn x số ngày dư nợ bị quá hạn x mức lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc bị quá hạn : 365 ngày”. Quá trình thực hiện, bị đơn chỉ mới trả lãi cho nguyên đơn tính đến ngày 25/6/2021 từ đó không tiếp tục trả. Việc bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả lãi dẫn đến khoản vay nêu trên bị chuyển thành nợ quá hạn kể từ ngày 27/6/2022. Theo quy định nêu trên, tính đến ngày 12/9/2024, số tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn của hợp đồng tín dụng phát sinh như sau: Lãi trong hạn là 616.982.055 đồng, lãi quá hạn là 21.052.466 đồng, tổng cộng là 638.034.521 đồng. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả số tiền nợ lãi nêu trên là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4.3] Đối với yêu cầu buộc bị đơn trả tiền lãi phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm.
Tại điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm quy định “Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật....”, xét Hợp đồng tín dụng giữa các bên có thỏa thuận cụ thể về việc trả lãi, lãi suất, do đó theo quy định nêu trên thì kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 13/9/2024) cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ thì bị đơn còn phải chịu khoản tiền lãi trên số tiền nợ chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng. Như vậy, yêu cầu này của nguyên đơn là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4.4] Đối với yêu cầu về việc xử lý tài sản bảo đảm.
Tài sản đảm bảo cho khoản vay nêu trên của bị đơn là Quyền sử dụng đất đối với Thửa đất số 621, Tờ bản đồ 07, ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS08672 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 08/01/2019, cập nhật chủ sở hữu cho ông Hoàng C ngày 24/5/2019) được thực hiện theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 6280-LCP-201901150 ngày 28/5/2019, công chứng tại Văn phòng C1, tỉnh Long An và Chứng nhận đăng ký thế chấp ngày 29/5/2019 tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Đ, tỉnh Long An. Tại Điều 2 của hợp đồng thế chấp có quy định “Bên B (Bên thế chấp) tự nguyện đem tài sản nói trên thế chấp cho Bên A (Bên cho vay) để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của Bên B tại các hợp đồng tín dụng được ký giữa hai bên (bao gồm nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, phạt quả hạn, các khoản phí và chi phí phát sinh khác liên quan...”. Xét việc thế chấp nêu trên đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định pháp luật nên có hiệu lực thi hành và làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thì hiện trạng tài sản thế chấp nói trên không có gì thay đổi so với thời điểm thế chấp.
Tại Điều 4 hợp đồng thế chấp có quy định “Ngân hàng A được xử lý tài sản để thu hồi nợ trong các trường hợp sau: Đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà Bên B (Bên vay) không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ...”. Do đó, trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ đối với nguyên đơn thì căn cứ quy định trên nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Xét yêu cầu nêu trên của nguyên đơn là có căn cứ và phù hợp với Điều 299 Bộ luật Dân sự 2015, Điều 56 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về Giao dịch bảo đảm nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm nói trên được dùng để thanh toán cho toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của bị đơn đối với nguyên đơn; nếu thừa sẽ được trả lại cho bị đơn, nếu còn thiếu thì bị đơn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn cho đến khi tất toán toàn bộ khoản nợ.
[4.5] Đối với yêu cầu buộc bị đơn trả lại chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
Theo các nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử thì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, do đó bị đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Xét trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã nộp tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền 15.000.000 đồng, do đó việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn hoàn trả lại số tiền này là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tại phiên tòa là phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận toàn bộ.
- Từ những phân tích nêu trên của Hội đồng xét xử và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên chấp nhận toàn bộ: Buộc bị đơn – ông Hoàng C phải thanh toán cho nguyên đơn toàn bộ số tiền tính đến ngày 12/9/2024 tổng cộng là 2.538.034.521 đồng, trong đó nợ gốc là 1.900.000.000 đồng, lãi trong hạn là 616.982.055 đồng, lãi quá hạn là 21.052.466 đồng, thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật; tiền lãi sẽ tiếp tục phát sinh trên số tiền nợ theo lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 6280-LAV-202000916 ngày 16/6/2020 kể từ ngày 13/9/2024 cho đến khi bị đơn trả hết số nợ. Trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất đối với Thửa đất số 621, Tờ bản đồ 07, ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS08672 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 08/01/2019, cập nhật chủ sở hữu cho ông Hoàng C ngày 24/5/2019) để thu hồi nợ; buộc bị đơn phải hoàn trả lại cho nguyên đơn chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền 15.000.000 đồng.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Ông Hoàng C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm được tính trên số tiền 2.538.034.521 đồng, tương đương án phí sơ thẩm là 82.760.690 đồng. Nguyên đơn không phải chịu án phí, hoàn trả lại cho nguyên đơn toàn bộ tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 184; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228, Điều 147; khoản 1 Điều 273; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 157; Điều 299; Điều 357; Điều 463; Điều 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 4; Điều 91 và khoản 1 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- - Căn cứ Điều 12 Luật Ngân hàng N2 năm 2010;
- - Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014);
- - Căn cứ Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về Giao dịch bảo đảm;
- - Căn cứ Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Ngân hàng N1.
1.1. Buộc bị đơn – ông Hoàng C phải thanh toán cho nguyên đơn – Ngân hàng N1 (do Chi nhánh Đ1 làm đại diện) toàn bộ số tiền tính đến ngày 12/9/2024 tổng cộng là 2.538.034.521 (hai tỷ năm trăm ba mươi tám triệu không trăm ba mươi bốn nghìn năm trăm hai mươi mốt) đồng, trong đó nợ gốc là 1.900.000.000 đồng, lãi trong hạn là 616.982.055 đồng, lãi quá hạn là 21.052.466 đồng. Thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (13/9/2024) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 6280-LAV-202000916 ngày 16/6/2020 nhưng phải phù hợp với quy định pháp luật.
1.2. Trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất đối với Thửa đất số 621, Tờ bản đồ 07, ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS08672 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 08/01/2019, cập nhật chủ sở hữu cho ông Hoàng C ngày 24/5/2019) được thực hiện theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 6280-LCP-201901150 ngày 28/5/2019, công chứng tại Văn phòng C1, tỉnh Long An và Chứng nhận đăng ký thế chấp ngày 29/5/2019 tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Đ, tỉnh Long An.
Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm nêu trên được dùng để thanh toán cho toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của bị đơn đối với nguyên đơn; nếu thừa sẽ được trả lại cho bị đơn, nếu còn thiếu thì bị đơn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn cho đến khi tất toán toàn bộ khoản nợ.
1.3. Buộc bị đơn có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của nguyên đơn đối với khoản tiền phải trả nêu trên cho đến khi thi hành xong, nếu bị đơn không thi hành hoặc thi hành không hết còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.
Các bên thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm số tiền 82.760.690 (tám mươi hai triệu bảy trăm sáu mươi nghìn sáu trăm chín mươi) đồng. Ông C chưa nộp án phí.
- Hoàn trả lại cho nguyên đơn – Ngân hàng N1 (do Chi nhánh Đ1 làm đại diện) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 37.500.698 (ba mươi bảy triệu năm trăm nghìn sáu trăm chín mươi tám) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0007615 ngày 04/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được cấp, tống đạt, niêm yết, thông báo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị bản án theo quy định pháp luật.
4. Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Danh Đời |
Bản án số 4305/2024/DS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 4305/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp tín dụng
