|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 430/2024/HS-PT Ngày: 31/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Nam;
Các Thẩm phán:
Ông Điều Văn Hằng.
Ông Nguyễn Trọng Đoàn.
Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Hương Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lê Hồng Phong - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, kết nối với điểm cầu thành phần tại Tòa án nhân tỉnh Bắc Ninh, để xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án Hình sự thụ lý số 1448/2023/TLPT-HS ngày 18 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” do có kháng cáo của bị cáo, nguyên đơn dân sự đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 126/2023/HS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
* Bị cáo có kháng cáo và bị kháng cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm 1990; khu T, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tiến Đ, sinh năm 1954 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1959; gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba; vợ là Nguyễn Thị T2, sinh năm 1990; bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2022 đến nay; hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; có mặt tại điểm cầu thành phần Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
* Người bào chữa của bị cáo (do Tòa án chỉ định): Ông Hoàng Ngọc Thanh B - Luật sư thuộc Đoàn luật sư H2; có mặt tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
* Bị hại: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1986; trú tại: thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Bắc Ninh, vắng mặt.
* Nguyên đơn dân sự có kháng cáo: Công ty cổ phần T4; địa chỉ: Số G lô E Quán N, phường K, quận L,thành phố Hải Phòng; đại diện theo pháp luật là ông Trần Mạnh H - Chức vụ: Giám đốc; đại diện theo ủy quyền của ông H là ông Bùi Ngọc C - chức vụ: Phó Tổng giám đốc, có mặt tại điểm cầu thành phần Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
Ngoài ra, trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 9/2022, anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1986, trú tại thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Bắc Ninh là Giám đốc Công ty cổ phần T5 (viết tắt là Công ty T5), có trụ sở tại số B đường T, khu B, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh cần vốn để thi công xây lắp mặt bằng khu công nghiệp H, tại huyện G. Thông qua mối quan hệ xã hội, Nguyễn anh S quen biết Nguyễn Văn T và anh Lê Văn Đ1, sinh năm 1983, trú tại: số A đường Đ, phường H, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Do biết anh S đang thiếu vốn làm ăn nên anh Đ1 thỏa thuận với anh S về việc hỗ trợ, giới thiệu anh S mua dầu dùng cho máy móc thiết bị phục vụ công trình, theo hình thức chuyến dầu lần đầu cho nợ tiền, từ chuyến dầu thứ hai thanh toán tiền cho chuyến trước, số lượng dầu do anh S quyết định. Sau đó, anh Đ1 giới thiệu anh S - đại diện Công ty T5 ký hợp đồng mua bán xăng dầu (Diesel 0.05S-II) số 1509 ngày 15/9/2022 với Công ty cổ phần T4 (viết tắt là Công ty T4), có trụ sở tại số G Lô E Quán N, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng, do anh Trần Mạnh H là đại diện và hợp đồng số 001 ngày 30/9/2022 với Công ty cổ phần T6 (viết tắt là Công ty T6), trụ sở tại số F T, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng do anh Bùi Huy H1 là đại diện. Sau khi ký hợp đồng, anh S đã đặt mua xăng dầu của 02 công ty trên, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Ngày 17/9/2022, anh S đặt mua và được Công ty T4 giao cho 02 xe dầu, tổng số 38.403 lít với giá 24.180 đồng/lít. Tuy nhiên, thời điểm này anh S chưa làm xong chỗ chứa dầu cho công trình nên đã nhờ Nguyễn Văn T mang bán 02 xe dầu trên để lấy tiền thi công công trình. Sau đó, T liên hệ và trao đổi việc mua bán dầu với anh Nguyễn Văn Đ2, sinh năm 1974, trú tại khu P, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh là Giám đốc Cửa hàng X thuộc Công ty cổ phần V, có trụ sở tại khu H, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Qua trao đổi giá cả, anh Đ2 chỉ đồng ý mua 02 xe dầu trên với giá là 21.000đ/lít (chiết khấu 3.180đ/lít), T trao đổi lại với anh S thì anh S đồng ý bán cho anh Đ2 với giá là 21.000đ/lít, tổng số tiền là 800.000.000 đồng. Số tiền này, anh Đ2 thanh toán cho T 500.000.000 đồng bằng tiền mặt và 300.000.000 đồng chuyển khoản từ tài khoản số [...] tại ngân hàng V1 - Chi nhánh B1 của anh Đ2 đến tài khoản số 19022014741016 tại ngân hàng T7 - Chi nhánh B1 của T. Sau đó, T trả lại anh S 800.000.000 đồng, trong đó trả 500.000.000 đồng bằng tiền mặt và chuyển khoản 300.000.000 đồng từ tài khoản của T đến tài khoản số 2345389999 tại ngân hàng S3 - Chi nhánh B1 của anh S.
Lần thứ hai: Ngày 20/9/2022, anh S đặt mua và được Công ty T4 giao cho 02 xe dầu, tổng số 38.403 lít với giá 24.180 đồng/lít. Anh S tiếp tục nhờ T mang 02 xe dầu đi bán với mức chiết khấu là 2.000 đồng/lít để lấy tiền thi công công trình. T biết với mức chiết khấu như trên sẽ không bán được, nhưng do đang cần tiền để tiêu sài cá nhân, trả nợ và đánh bạc, T nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền bán dầu trên nên đồng ý bán hộ S với mức chiết khấu 2.000 đồng/lít. Sau đó, T bán cho anh Đ2 số dầu trên với giá 21.000đ/lít (nhiều hơn 1.180 đồng/lít so với thỏa thuận), được 800.000.000 đồng. Việc tự ý bán với mức chiết khấu cao hơn thỏa thuận ban đầu, T không trao đổi, không được sự đồng ý của anh S. Anh Đ2 đã thanh toán 800.000.000 đồng cho T (chuyển khoản 91.000.000 đồng và tiền mặt 709.000.000 đồng). Sau khi nhận tiền, T trả lại cho S 50.000.000 đồng qua chuyển khoản, số tiền còn lại T dùng để trả nợ, tiêu sài cá nhân và đánh bạc trên mạng hết. Khi S hỏi về số tiền bán dầu, thì T nói dối là anh Đ2 còn nợ, chưa thanh toán.
Lần thứ ba, bốn, năm: Trong các ngày 30/9/2022, 01/10/2022 và 03/10/2022, anh S lần lượt đặt mua và được Công ty KBH giao 03 chuyến dầu, mỗi chuyến 02 xe, tổng số 134.370 lít với giá 22.530 đồng/lít. Anh S tiếp tục nhờ T mang 06 xe dầu đi bán với mức chiết khấu là 2.000 đồng/lít để lấy tiền thi công công trình. T biết không thể bán với mức chiết khấu như trên nhưng do cần tiền để trả cho anh S những chuyến dầu trước và đánh bạc trên mạng, tiêu sài cá nhân nên T đồng ý và tự liên hệ bán cho anh Đ2 với giá 19.000 đồng/lít (nhiều hơn 1.530 đồng/lít so với thỏa thuận) mà không trao đổi, không được sự đồng ý của anh S, được tổng số tiền là 2.553.030.000 đồng. Anh Đ2 đã thanh toán đầy đủ số tiền 2.553.030.000 đồng cho T (chuyển khoản 1.909.000.000 đồng và tiền mặt 644.030.000 đồng). Sau khi nhận tiền, T trả cho anh S 1.520.000.000 đồng thông qua chuyển khoản vào tài khoản của anh S, anh Đ1 (số 46010002735082 tại ngân hàng B2 - Chi nhánh H3) và chị Nguyễn Thị C1 (là vợ anh S, số D tại ngân hàng A - Chi nhánh B1). Số tiền còn lại, T dùng để trả nợ, tiêu sài cá nhân và đánh bạc trên mạng hết. Khi S hỏi về số tiền bán dầu thì T nói anh Đ2 còn nợ, chưa thanh toán.
Như vậy, tổng số tiền Nguyễn Văn T chiếm đoạt của anh S là 2.040.394.640 đồng, gồm 1.783.030.000 đồng là số tiền bán dầu anh Đ2 đã thanh toán cho T nhưng T không đưa cho anh S và 257.364.640 đồng là số tiền T tự ý chiết khấu thêm cho anh Đ2 không được sự đồng ý của anh S. Số tiền trên, T dùng để trả nợ (không nhớ trả những ai), tiêu sài cá nhân và đánh bạc trên mạng hết. Đến nay, Cơ quan điều tra không thu hồi được.
Ngày 18/12/2022, Nguyễn Văn T đến Công an đầu thú, khai nhận hành vi chiếm đoạt tiền của anh S, đồng thời tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9, màu xanh đen. T sử dụng chiếc điện thoại này tải ứng dụng Kubet trên mạng, sử dụng sim số 0378.787.249 để đăng kí tài khoản thành viên rồi nạp tiền bằng hình thức qua QR code và ngân hàng Đ3. Khi nhấn vào sẽ xuất hiện tài khoản ngân hàng đối ứng nhận tiền (tài khoản ngân hàng này thay đổi theo thời gian), T đăng nhập vào tài khoản ngân hàng số 19022014741016 của T để thực hiện việc chuyển tiền đến tài khoản ngân hàng nhận tiền, nội dung tin nhắn là số điện thoại 0378.787.xxx của T. Khi chuyển tiền xong, tài khoản đánh bạc của T tự động cập nhật số điểm tương ứng 01 điểm trên ứng dụng bằng 1.000 đồng. Khi rút tiền từ tài khoản đánh bạc này ra, T nhập số tiền muốn rút tương ứng 01 điểm = 1.000 đồng, tiền rút ra được trả về tài khoản ngân hàng số 19022014741016 của T.
Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO F9 của T xác định:
- Tại mục thông báo giao dịch tài khoản ngân hàng số 19022014741016 trong ngày 01/10/2022 và 02/10/2022 của T, có nhiều giao dịch chuyển khoản đi và đến. T khai nhận là số tiền anh Đ2 trả tiền mua dầu và tiền T nạp vào tài khoản ứng dụng Kubet để đánh bạc.
- Tại ứng dụng Kubet, tài khoản số 0378.787.249 của T, xác định lịch sử nạp tiền trên ứng dụng Kubet lưu trữ được thời gian là 07 ngày và lịch sử cá cược lưu trữ được 14 ngày. Trong thời gian từ ngày 12/12/2022 đến ngày 16/12/2022, T nạp vào 2.500 điểm, tương ứng với 2.500.000 đồng. T 06 lần tham gia cá cược tại 03 trận bóng rổ với số tiền là 1.954.000 đồng, thắng được 438.480 đồng. Tổng số tiền T đánh bạc là 2.392.480 đồng.
Cơ quan điều tra tiến hành xác minh đối với thông tin địa chỉ máy chủ ứng dụng K và các tài khoản ngân hàng T khai nhận là các tài khoản nhận chuyển tiền khi T nạp vào ứng dụng Kubet để đánh bạc, xác định: Không đủ cơ sở để xác định thông tin địa chỉ của máy chủ của ứng dụng K; các tài khoản ngân hàng T chuyển tiền không mở tại hệ thống các ngân hàng của Việt Nam nên không đủ căn cứ xác định chủ sở hữu.
Ngày 06/3/2023, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đã ra Quyết định trưng cầu Cục thuế tỉnh B giám định số tiền trốn thuế đối với Công ty T5 và Công ty cổ phần V.
Tại Công văn số: 1375 ngày 25/4/2023 của Cục thuế tỉnh B, xác định:
“+ Công ty T5 không có sổ sách hạch toán lượng dầu mua của Công ty T4 và Công ty T6 và lượng dầu giao cho T đi bán nên không đủ cơ sở để giám định số tiền trốn thuế đối với Công ty T5.
+ Công ty cổ phần V không có chứng từ, tài liệu xác định chính xác lượng và giá trị dầu mua vào của T đã xuất bản tại số hóa đơn nào, đã kê khai báo cáo thuế hay chưa nên không có cơ sở để xác định số tiền trốn thuế của Công ty cổ phần V”.
Về trách nhiệm dân sự:
- Công ty T5 mua của Công ty T4 tổng số 76.806 lít với giá 24.180 đồng/lít, tổng tiền là 1.857.169.080 đồng, cộng với tiền cước vận chuyển 10.000.000 đồng và tiền lưu ca xe 3.000.000 đồng. Tổng số tiền Công ty T5 phải trả cho Công ty T4 là 1.870.169.080 đồng. Anh S đã thanh toán cho Công ty T4 số tiền 350.000.000 đồng, còn nợ số tiền 1.520.169.080 đồng. Công ty T4 yêu cầu Công ty T5 phải thanh toán số tiền còn thiếu trên.
- Công ty T5 mua của Công ty T6 tổng số 134.370 lít với giá 22.530 đồng/lít, tổng tiền là 3.027.356.100 đồng. Anh S đã thanh toán cho Công ty T6 số tiền 2.000.000.000 đồng (bao gồm số tiền 100.000.000 đồng anh Đ1 thanh toán cho Công ty T6), còn nợ số tiền 1.027.356.100 đồng. Công ty T6 yêu cầu Công ty T5 phải thanh toán số tiền còn thiếu trên. Anh Đ1 không yêu cầu anh S phải hoàn trả số tiền 100.000.000 đồng đã thanh toán cho Công ty T6.
- Anh S yêu cầu T phải bồi thường số tiền 2.040.394.640 đồng đã chiếm đoạt và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho T. Đến nay, T chưa bồi thường.
Tại bản Cáo trạng số: 119/CT-VKSBN-P1 ngày 08/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Văn Tuấn về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 126/2023/HS-ST ngày 28/9/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
1. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự,
Xử phạt: Nguyễn Văn T 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2022.
Tiếp tục duy trì biện pháp tạm giam đối với bị cáo Nguyễn Văn T theo Quyết định tạm giam số: 228/2023/HSST-QĐTG ngày 08/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh để đảm bảo việc thi hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584; 585; 586; 589 Bộ luật dân sự: Buộc Nguyễn Văn T phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn S số tiền là 2.040.394.640 đồng (Hai tỷ, không trăm bốn mươi triệu, ba trăm chín tư nghìn, sáu trăm bốn mươi đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng phải chịu một khoản lãi của số tiền chậm thi hành án theo quy định tại điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và thời hạn kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 09/10/2023, bị cáo Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 10/10/2023, Nguyên đơn dân sự là Công ty cổ phần T4 kháng cáo với nội dung: đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết giao dịch gữa Công ty và anh S trong vụ án hình sự này và buộc những người có nghĩa vụ thanh toán phải hoàn trả lại cho Công ty bằng tài sản (dầu) hoặc bằng tiền tương đương với giá trị hàng hóa đã mua bán cho công ty.
Tòa án đã bỏ hành vi phạm tội của Nguyễn Văn S trong vụ án này.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo T giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt hình phạt. Nguyên đơn dân sự giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Về việc tuân thủ các quy định của Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự trong quá trình giải quyết vụ án. Xét kháng cáo của bị cáo thấy rằng: mặc dù tại phiên tòa phúc thẩm bà Nguyễn Thị T1 mẹ đẻ bị cáo có xuất trình được đơn trình bày hoàn cảnh khó khăn có xác nhận của UBND phường V, thành phố B, bị cáo cho rằng mình là lao động chính trong gia đình, có ông nội tham gia kháng chiến, nhưng xét thấy các tình tiết giảm nhẹ đều được án sơ thẩm đã áp cho bị cáo, nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
Kháng cáo của Nguyên đơn dân sự, cho rằng Nguyên Văn S1 là người đồng phạm với bị cáo Nguyễn Văn T, yêu cầu cơ quan pháp luật phải truy tố Sang trong cùng vụ án này, thấy rằng việc giao dịch giữa công ty Cổ phần T4, công ty cổ phần T6 với Nguyễn văn S2 là giao dịch dân sự giữa các bên theo hình thức hợp đồng dân sự. Các bên có trách nhiệm thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng đã giao kết. Trường hợp các bên quyền và lợi ích bị xâm hại thì có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự tại tòa án có thẩm quyền. Do đó không có căn cứ để chấp nhận nội dung kháng cáo của Nguyên đơn dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ các điều 331, 332,333 Bộ Luật Tố tụng Hình sự, đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T và nguyên đơn dân sự làm đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận để xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: qua việc xét hỏi công khai tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo T đã nhận tội, L khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Trong thời gian từ ngày 20/9/2022 đến ngày 30/10/2022, tại huyện G, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Văn T đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền bán dầu anh Nguyễn Văn S để lấy tiền trả nợ, tiêu sài cá nhân và đánh bạc trên mạng nên T đó nói dối anh S là T có thể bán được dầu theo mức giá chiết khấu anh S yêu cầu. Khi anh S giao dầu cho T đi bán thì T đã bán với giá thấp hơn và chiếm đoạt số tiền bán dầu, cụ thể như sau:
- Ngày 20/9/2022, khi được anh S nhờ đi bán 38.403 lít dầu với giá 24.180 đồng/lít, chiết khấu là 2.000 đồng/lít, T biết không thể bán được nhưng vẫn đồng ý và tự liên hệ bán cho anh Nguyễn Văn Đ2 với giá 21.000 đồng/lít (chiết khẩu 3.180đ/lít), thu được 800.000.000 đồng. T đã trả anh S 50.000.000 đồng còn lại chiếm đoạt 750.000.000 đồng.
- Trong các ngày 30/9/2022, 01/10/2022, 03/10/2022, khi được anh S nhờ đi bán 03 chuyến dầu, tổng số 134.370 lít với giá 22.530 đồng/lít, chiết khấu là 2.000 đồng/lít. T tự liên hệ bán cho anh Đ2 với giá 19.000 đồng/lít (chiết khấu 3.530 đồng/lít) thu được 2.553.030.000 đồng. T trả anh S 1.520.000.000 đồng, còn lại chiếm đoạt 1.033.030.000 đồng. Anh S nhiều lần đòi tiền nhưng T nói anh Đ2 còn nợ, chưa trả.
Như vậy, tổng số tiền T đã chiếm đoạt của anh S là 2.040.394.640 đồng, gồm 1.783.030.000 đồng là số tiền bán dầu anh Đ2 đã thanh toán cho T nhưng T không đưa cho anh S và 257.364.640 đồng là số tiền T tự chiết khấu thêm cho anh Đ2 không được sự đồng ý của anh S.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm quy kết bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Nay bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt có nêu các lý do như: có đơn của bà Nguyễn Thị T1 mẹ đẻ bị cáo có trình bày hoàn cảnh khó khăn có xác nhận của UBND Phường V, thành Phố B; bị cáo là lao động chính trong gia đình; ông nội bị cáo tham gia kháng chiến được Nhà nước tặng thưởng Huân huy chương; bị cáo còn có tình tiết là đầu thú, nay bị cáo biết rõ lỗi lầm của mình mong muốn Hội đồng xét xử phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét thấy các tình tiết giảm nhẹ này đều được án sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo, không phải là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Mặt khác hành vi phạm tội của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang, lo lắng trong một bộ phận quần chúng nhân dân. Bởi vậy cần phải áp dụng một mức hình nghiêm minh như án sơ thẩm đã áp dụng là cần thiết. do đó không có căn cứ để chấp nhận nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn T.
Xác nhận bị cáo Nguyên Văn T3 đã nộp 200.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm do vợ bị cáo là chị Nguyễn Thị T2 nộp thay, tại biên lai thu tiền số 0000319, ngày 17/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
[5] Xét kháng cáo của nguyên đơn dân sự về trách nhiệm dân sự, Hội đồng xét xử thấy rằng: Đối với yêu cầu của đại diện Công ty cổ phần T4 buộc S và Công ty cổ phần T5 phải thanh toán số tiền còn lại nợ mà anh S và Công ty T5 chưa thanh toán, xét thấy đây là giao dịch dân sự giữa các bên theo hình thức hợp đồng mua bán, các bên có trách nhiệm thực hiện quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng đã giao kết. Trường hợp các bên thấy quyền và nghĩa vụ hợp pháp bị xâm phạm thì có quyền có quyền làm đơn khởi kiện đến Tòa án có thẩm quyền để xem xét giải quyết theo qui định của pháp luật. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét, giải quyết trong vụ án này là đúng pháp luật. Việc công ty cho rằng còn bỏ lọt hành vi phạm tội của Nguyễn Văn S và S là đồng phạm trong vụ án này. Hội đồng xét xử nhận thấy theo qui định của Bộ Luật tố tụng hình sự, Tòa án chỉ xét xử những bị can mà Viện kiểm sát đã truy tố, mặt khác qui định về thẩm quyền của cấp phúc thẩm chỉ có thẩm quyền xem xét giải quyết những nôi dung mà cấp sơ thẩm đã giải quyết vì vậy, xét nội dung kháng cáo phần này của phía Công ty cổ phần T4 là không có căn cứ chấp nhận.
Việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định tư các của Nguyên đơn dân sự là Công ty cổ phần T4; địa chỉ: Số G lô E Quán N, phường K, quận L,thành phố Hải Phòng là chưa chính xác, bởi vì theo qui định tại điều 63 Bộ Luật Tố tụng Hình sự thì Nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại. Công ty cổ phần T4 không bị thiệt hại do hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn T gây ra, vấn đề này Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
Phát biểu của đại điện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Người bào chữa cho bị cáo nêu hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, mẹ già vợ không có việc làm, con nhỏ, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ở mức thấp hơn án sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo, xét đề nghị của người bào chữa cho bị cáo là không có căn cứ nên không được chấp nhận.
[6] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Kháng cáo của nguyên đơn dân sự không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, và không trái với các quy định của pháp luật đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356, Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
QUYẾT ĐỊNH:
Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn T và kháng cáo của nguyên đơn dân sự là Công ty cổ phần T4, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 126/2023/HS-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh như sau:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
1. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Văn T 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2022.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584; 585; 586; 589 Bộ luật Dân sự: Buộc Nguyễn Văn T phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn S số tiền là 2.040.394.640 đồng (Hai tỷ, không trăm bốn mươi triệu, ba trăm chín tư nghìn, sáu trăm bốn mươi đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng phải chịu một khoản lãi của số tiền chậm thi hành án theo quy định tại điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
Xác nhận bị cáo Nguyên Văn T3 đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm do vợ bị cáo là chị Nguyễn Thị T2 nộp thay tại Biên lai thu tiền số 0000319 ngày 17/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
3. Về án phí phúc thẩm:
Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Nguyên đơn dân sự là Công ty cổ phần T4 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm mà Công ty cổ phần T4 đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0000019 ngày 31/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh. Xác nhận Công ty cổ phần T4 đã thi hành xong án phí dân sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Văn Nam |
Bản án số 430/2024/HS-PT ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về hình sự - lừa đảo chiếm đoạt tài sản (phúc thẩm)
- Số bản án: 430/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn T và kháng cáo của nguyên đơn dân sự là Công ty cổ phần thương mại tiếp vận T4.
