Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 430/2024/DS-PT

Ngày 25 tháng 9 năm 2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản;

hợp đồng thế chấp tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Hoài Bình

Các Thẩm phán: Bà Phan Thị Hồng Dung

Bà Lê Thị Minh Trang

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phi - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 192/2024/TLPT-DS, ngày 23 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, hợp đồng thế chấp tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 104/2024/DS-ST ngày 15/5/2024 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 349/2024/QĐPT-DS ngày 22 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Nguyễn Chí T, sinh năm: 1979;

Địa chỉ: Số C đường L, khu V, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ.

Đại diện ủy quyền: Ông Lê Văn C, sinh năm: 1959. Địa chỉ: Số A B đường Đ, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ

* Bị đơn: Ông Phan Quốc H, sinh năm: 1967.

Địa chỉ: Số E, đường C T, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ.

Đại diện ủy quyền: Ông Nguyễn Quốc N, sinh năm: 1979. Địa chỉ: D khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ, địa chỉ liên hệ: C19 đường 27, CIC8, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị A, sinh năm: 1975. Địa chỉ: Số A B, đường X, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

Địa chỉ liên hệ: B đường số C, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ (Vắng mặt).

2. Ngân hàng TMCP Đ (S). Địa chỉ chỉ nhánh: 26-28 đường N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.

Đại diện ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Lê Duy Q (có mặt)

3. Công ty TNHH MTV X.

Đại diện pháp luật: Bà Nguyễn Thị A - Chức vụ: Giám đốc

Địa chỉ trụ sở: 174 khu vực L, phường H, thành phố N, tỉnh Hậu Giang (Xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn Nguyễn Chí T có đại diện ông Lê Văn C trình bày:

Theo đơn khởi kiện ngày 11/7/2023 và bản tự khai ngày 11/7/2023: Nội dung ông Nguyễn Chí T là chỗ quen biết ông Phan Quốc H, ngày 06/3/2023 và ngày 08/3/2023 ông H có nhờ ông vay mượn số tiền 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng) để đảo nợ ngân hàng và hẹn ông trong thời hạn 02 ngày sau sẽ ký thế chấp tài sản cho ông để làm tin, thời gian mượn tiền là 30 ngày hoàn trả cho ông. Ông quen biết ông H nên ông nhờ người thân gom tiền cho ông H mượn. Sau khi nhận tiền xong ông H không thế chấp tài sản cho ông theo lời hứa, đến hẹn trả tiền ông H không trả đến nay hơn 03 tháng. Nay yêu cầu ông H trả nợ và lãi như sau:

  • Yêu cầu ông Phan Quốc H có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng).
  • Yêu cầu ông Phan Quốc H có nghĩa vụ trả lãi suất theo quy định pháp luật.

Đối với chiếc xe ô tô biển số 95A – 088.79 nhãn hiệu KIA, mang tên Công ty TNHH MTV X để đảm bảo cấn nợ số nợ 500.000.000 đồng. thực tế xe này đã thế chấp ngân hàng, nên xác định không có cấn trừ số nợ này.

Hiện ông Phan Quốc H vẫn còn nợ số tiền 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng).

Nguyên đơn không chấp nhận yêu cầu phản tố ngày 25/8/2023 của ông Phan Quốc H, không chấp nhận yêu cầu độc lập ngày 30/8/2023 của bà Nguyễn Thị A

Đối với chiếc xe ô tô biển số 95A – 088.79 nhãn hiệu KIA hôm nay có đại diện ngân hàng. Nguyên đơn đồng ý giao trả xe ô tô này cho bà A với điều kiện hủy bỏ giấy thế chấp tài sản ngày 12/5/2023 bà A ký thế chấp, ông H ký làm chứng và hủy bỏ giấy ông Nguyễn Chí T có nhận ông Phan Quốc H trả 500.000.000 đồng

2

(Năm trăm triệu đồng), ngày 12/5/2023 đã trừ nợ. Do đó, nếu nguyên đơn trả xe mà chưa thống nhất hủy làm ảnh hưởng quyền lợi của nguyên đơn.

Ngày 27/11/2023 nguyên đơn có đơn khởi kiện bổ sung ngày 27/11/2023:

Yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây: Yêu cầu hủy hợp đồng mượn tài sản (tiền), số tiền 500.000.000 đồng, thế chấp xe ô tô biển số 95A 088.79 do Công ty TNHH MTV X đứng tên giữa bà Nguyễn Thị A với ông Nguyễn Chí T, ngày 12/05/2023 và hủy biên nhận nhận số tiền 500.000.000 đồng, giữa ông Nguyễn Chí T với ông Phan Quốc H cùng ngày 12/05/2023.

* Bị đơn ông Phan Quốc H có ông Nguyễn Quốc N đại diện trình bày. Theo đơn phản tố ngày 25/8/2023 như sau: Theo thông báo thụ lý số 458/TB- TLVA ngày 26 tháng 07 năm 2023 thì ông Nguyễn Chí T khởi kiện yêu cầu ông Phan Quốc H phải trả cho ông T số tiền mượn 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng) và tiền lãi theo pháp luật quy định.

Ông Phan Quốc H không đồng ý với yêu cầu nêu trên vì các lý do sau:

Thông qua mối quan hệ quen biết, ông Nguyễn Anh T1 – Phó phòng PC10 Công an thành phố C giới thiệu cho ông H một người chị tên Nguyễn Thị A là Giám đốc công ty TNHH MTV X. Ông T1 nói rằng bà Nguyễn Thị A cần một số tiền để làm thủ tục tất - đảo nợ ngân hàng, hỏi ông H có quen biết ai có tiền để cho bà Nguyễn Thị A vay, sau khi vay đáo hạn được vốn ngân hàng hoàn trả lại. Do ông T1 cũng là đồng nghiệp quen biết nhiều năm nên ông H tin tưởng và ông H nói sẽ giới thiệu người có tiền cho bà A vay. Sau đó, ông H đã gặp và giới thiệu ông Nguyễn Chí T, sinh năm 1979. Địa chỉ: C L, khu V, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ cho bà Nguyễn Thị A, cả ba gặp mặt, sau đó bà A đã đề cập việc vay số tiền 3.200.000.000 đồng. Nhưng phía ông Nguyễn Chí T không có đủ tiền, ông T chỉ cho bà Nguyễn Thị A vay số tiền 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng) với điều kiện ông H phải viết biên nhận nợ với ông Nguyễn Chí T để làm tin và bà Nguyễn Thị A ký với tư cách người bảo lãnh trong các biên nhận tiền để sau này bà A không trả được thì có thể đòi ông H phải trả thay cho khoản nợ của bà A. Các lần giao dịch vay mượn tiền giữa ông T và bà A: ông Tân chuyển tiền vào tài khoản của ông H và ông Hoàng c lại cho bà A và ông T yêu cầu ông H ký biên nhận mượn tiền và bà A ký với tư cách bảo lãnh. Nhưng thực tế ông T là người trực tiếp cho bà A mượn tiền với tổng số tiền là 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng), bà A là người sử dụng tiền và ông H chỉ là người ký tên vào biên nhận mượn tiền theo yêu cầu của ông T, thực tế ông H không có vay mượn tiền gì với ông Nguyễn Chí T. Khi bà A chuyển trả lãi cho ông T thông qua tài khoản của ông H thì ngay sau đó ông H chuyển đúng, đầy đủ số tiền này cho ông T. Do bà A trả nợ không đúng theo

3

cam kết nên ngày 12/5/2023 bà A đã viết giấy thế chấp tài sản cho ông T là chiếc xe ô tô biển số 95A-088.79 nhãn hiệu KIA mang tên Công ty TNHH MTV X để cấn trừ một phần nợ và ông H ký vào với tư cách là người làm chứng (bị đơn chỉ chứng kiến việc ông T giữ xe của bà A nhưng không biết rõ việc cấn trừ nợ như thế nào). Như vậy, việc ông Nguyễn Chí T khởi kiện ông H yêu cầu phải trả khoản nợ 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng) nêu trên là không phù hợp do thực tế giao dịch vay mượn tiền là giữa bà Nguyễn Thị A với ông Nguyễn Chí T. Ông T là người biết rõ việc ông H không là người vay tiền, sử dụng tiền; người vay tiền và sử dụng tiền là bà Nguyễn Thị A. Nay bằng đơn phản tố này, ông Phan Quốc H yêu cầu Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xem xét giải quyết yêu cầu sau:

Tuyên vô hiệu các hợp đồng vay mượn tiền giữa ông Nguyễn Chí T và ông Phan Quốc H với số tiền 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng).

* Người liên quan bà Nguyễn Thị A có đơn yêu cầu độc lập ngày 30/8/2023:

Nguyên trước đây bà Nguyễn Thị A biết ông Phan Quốc H có quen biết với ông Nguyễn Chí T nên có nhờ ông H hỏi mượn tiền của ông T. Tuy nhiên, trong quá trình làm việc với ông T để hỏi mượn tiền thì ông T nói rằng ông H là người có uy tín nên yêu cầu ông H phải ký vào bản nhận nợ để làm tin và bà Nguyễn Thị A ký với tư cách người bảo lãnh trong các biên nhận tiền để sau này bà A không trả được thì có thể đòi ông H phải trả thay cho khoản nợ của bà Nguyễn Thị A. Cứ như vậy, mỗi lần ông T chuyển tiền cho bà Nguyễn Thị Anh m thì đều bắt ông H ký biên nhận mượn tiền và bà Nguyễn Thị A ký với tư cách bảo lãnh nhưng thực tế ông T là người trực tiếp cho bà Nguyễn Thị A mượn tiền với tổng số tiền là 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng) và ông H chỉ là người ký tên vào biên nhận mượn tiền theo yêu cầu của ông T chứ thực tế ông H không có vay mượn tiền gì với ông Nguyễn Chí T. Sau đó bà Nguyễn Thị A đã chuyển khoản số tiền 162.000.000₫ (Một trăm sáu mươi hai triệu đồng) cho ông Phan Quốc H để nhờ ông H trả cho ông Nguyễn Chí T. Do việc kinh doanh không thuận lợi, gặp nhiều khó khăn nên việc trả nợ cho phía ông T diễn ra chậm trễ, để tạo lòng tin và gia hạn thêm thời gian trả nợ bà A đã viết giấy thế chấp tài sản cho ông T là chiếc xe ô tô biển số 95A-088.1 179 nhãn hiệu KIA mang tên Công ty X. Nhưng do thực tế xe đang được TNHH MTV xăng dầu X thế chấp ngân hàng nên không thể cấn trừ số nợ, mà chỉ làm giấy thế chấp tài sản ngày 12/5/2023 để ông H ký vào với tư cách là người làm chứng để ông T tin tưởng và cho bà A thêm thời gian trả nợ và hiện tại chiếc xe ô tô nói trên phía ông Nguyễn Chí T đang giữ. Nay, ông Nguyễn Chí T khởi kiện ông Phan Quốc H yêu cầu phải trả khoản nợ 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng) nêu trên là không phù hợp do thực tế giao dịch mượn tiền là giữa bà Nguyễn

4

Thị A với ông Nguyễn Chí T không liên quan gì đến ông Phan Quốc H. Do đó, bà Nguyễn Thị A có yêu cầu độc lập để yêu cầu Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ giải quyết như sau:

  • Tuyên hủy các hợp đồng vay mượn (biên nhận nợ) giữa ông Nguyễn Chí T và ông Phan Quốc H.
  • Nguyễn Thị A đồng ý trả số tiền 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng) cho ông Nguyễn Chí T theo các biên nhận nợ mà ông Phan Quốc H đã ký.

Đối với chiếc xe ô tô biển số 95A – 088.79 nhãn hiệu KIA, mang tên Công ty TNHH MTV X xác định ông Nguyễn Chí T đang giữ xe này.

* Người liên quan ngân hàng TMCP Đ (S) có ông Lê Duy Q trình bày: Chiếc xe ô tô biển số 95A – 088.79 nhãn hiệu KIA, chủ sở hữu tên Công ty TNHH MTV X (gọi tắt Công ty X) bà Nguyễn Thị A, chức vụ giám đốc đã ký hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp số: 2300300020/HDCV & TC, ngày 30/12/2022 được ký giữa S với công ty TNHH MTV X. Hiện công ty X đã nợ quá hạn, vi phạm nghĩa vụ vay. Nay, yêu cầu người giữ tài sản phải giao xe ô tô biển số 95A – 088.79 nhãn hiệu KIA lại cho phía ngân hàng. Ngân hàng có khởi kiện công ty X tại nơi công ty đặt trụ sở.

Tại phiên tòa sơ thẩm,

  • Đại diện nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu bị đơn ông Phan Quốc H phải trả nợ vay tài sản tổng số tiền đã nhận là 2.000.000.000 đồng. Về lãi suất: Sửa đổi không tính lãi do đã nhận nên cấn trừ số tiền đã nhận 162.000.000 đồng nguyên đơn chỉ yêu cầu lãi khi có đơn yêu cầu thi hành án.

Yêu cầu đơn bổ sung ngày 27/11/2023. Yêu cầu hủy hợp đồng mượn tài sản (tiền), số tiền 500.000.000 đồng, thế chấp xe ô tô biển số 95A 088.79 do Công ty TNHH MTV X đứng tên giữa bà Nguyễn Thị A với ông Nguyễn Chí T, ngày 12/05/2023 và hủy biên nhận nhận số tiền 500.000.000 đồng, giữa ông Nguyễn Chí T với ông Phan Quốc H cùng ngày 12/05/2023.

Không đồng ý đơn phản tố của bị đơn;

  • Đại diện bị đơn yêu cầu vô hiệu hợp đồng vay giữa ông Nguyễn Chí T với ông Phan Quốc H theo đơn yêu cầu phản tố theo đơn ngày 25/8/2023.

Người liên quan bà Nguyễn Thị A vắng mặt tại phiên tòa không có ý kiến trình bày.

Đại diện ngân hàng vẫn giữ ý kiến trình bày: Yêu cầu người giữ tài sản là chiếc xe ô tô biển số 95A – 088.79 nhãn hiệu KIA, chủ sở hữu tên Công ty TNHH MTV X cho ngân hàng theo hợp đồng thế chấp.

5

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 104/2024/DS-ST ngày 15/5/2024 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ đã quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Chí T khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản, thế chấp tài sản với bị đơn ông Phan Quốc H như sau:

  • Về số nợ: Buộc bị đơn ông Phan Quốc H phải có trách nhiệm trả cho nguyên đơn ông Nguyễn Chí T số tiền nợ 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng) là dứt nợ.

Về thời gian trả nợ và cách trả nợ: Các bên đương sự tự thỏa thuận nếu không thống nhất thực hiện được sẽ yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự giải quyết theo thẩm quyền.

Về lãi suất: Không tính lãi suất phát sinh trong quá trình vay do nguyên đơn đã nhận đã được cấn trừ tiền lãi đã nhận.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án; người phải thi hành án chậm trả nợ thì phải chịu lãi suất theo quy định Điều 357 và Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.

  • Hủy hợp đồng thế chấp “Giấy thế chấp tài sản ngày 12/5/2023” được ký kết giữa ông Nguyễn Chí T với bà Nguyễn Thị A, ông Phan Quốc H.
  • Hủy “biên nhận ngày 12/5/2023”, ghi số tiền 500.000.000 đồng, giữa ông Nguyễn Chí T với ông Phan Quốc H.

Giải quyết hậu quả: ông Nguyễn Chí T phải giao trả tài sản là chiếc xe ô tô biển số 95A - 088.79 cho Công ty TNHH MTV X (Tài sản đã qua sử dụng không rõ tình trạng bên trong).

  • Đình chỉ đơn yêu cầu độc lập ngày 30/8/2023 của bà Nguyễn Thị A. Hậu quả của việc đình chỉ: Đương sự không phải chịu án phí. Quyền và nghĩa vụ đương sự thực hiện theo Điều 192; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn theo đơn ngày 25/8/2023.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 22/5/2024, bị đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, vì vi phạm nghiêm trọng về thủ tục ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên kháng cáo.

6

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phát biểu quan điểm và đề nghị:

Về tố tụng: Hoạt động tố tụng của những người tiến hành tố tụng là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Cấp sơ thẩm đã giải quyết xác định sai tư cách người tham gia tố tụng của bà Nguyễn Thị A; nguyên đơn có đơn khởi kiện bổ sung và nộp các chứng cứ kèm theo, nhưng sau đó Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ; Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 03/5/2024, Hội đồng xét xử sơ thẩm tạm ngừng phiên tòa đến ngày 15/5/2024 để đại diện bị đơn tiếp cận đơn khởi kiện bổ sung ngày 27/11/2023 là không đúng quy định. Lời khai của ông T và bà A mâu thuẫn nhau về mục đích bà A thế chấp xe ô tô nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa đối chất làm rõ mục đích hai bên lập Giấy thế chấp tài sản là để đảm bảo khoản vay nào. Mối quan hệ vay mượn giữa ông T và ông H, giữa ông H và bà A cần xem xét giải quyết trong cùng một vụ án mới đảm bảo quyền lợi của các bên, tránh trường hợp đương sự có nghĩa vụ tẩu tán tài sản nhằm trốn tránh trách nhiệm trả nợ.

Việc giải quyết vụ án chưa toàn diện. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự để hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về xác định tư cách tham gia tố tụng: Ngày 27/11/2023 nguyên đơn có đơn khởi kiện bổ sung, trong đó có yêu cầu hủy hợp đồng mượn tài sản (tiền), số tiền 500.000.000 đồng, thế chấp xe ô tô biển số 95A 088.79 do Công ty TNHH MTV X đứng tên giữa bà Nguyễn Thị A với ông Nguyễn Chí T ngày 12/05/2023. Theo quy định tại khoản 3 Điều 68 BLTTDS năm 2015 thì bà Nguyễn Thị A là bị đơn. Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm vẫn xác định bà Nguyễn Thị A là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vi phạm thủ tục tố tụng. Từ đó làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.

[1.2] Về thủ tục công khai chứng cứ: Ngày 27/11/2023 nguyên đơn có đơn khởi kiện bổ sung và nộp các chứng cứ kèm theo, nhưng sau đó Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ là không

7

đúng quy định tại Điều 210 BLTTDS năm 2015. Từ đó, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền tiếp cận chứng cứ của đương sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 03/5/2024, Hội đồng xét xử sơ thẩm tạm ngừng phiên tòa đến ngày 15/5/2024 để đại diện bị đơn tiếp cận đơn khởi kiện bổ sung ngày 27/11/2023 là không đúng quy định tại Điều 259 Bộ luật Tố tụng dân sự, vì đây không phải là lý do để Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa.

[2] Về Nội dung vụ án:

[2.1] ÔngNguyễn Chí T cho rằng có cho ông Phan Quốc H vay 02 tỷ đồng, thể hiện tại các biên nhận: Biên nhận ngày 06/3/2023, số tiền vay 700.000.000 đồng, biên nhận ngày 08/3/2023, số tiền vay là 01 tỷ đồng (Trong đó, chuyển khoản 1.800.000.000 đồng, tiền mặt 200.000.000 đồng), tổng số tiền 2.000.000.000 đồng. Ông H có ký biên nhận vào các biên nhận. Đến ngày 10/5/2023, ông H lập “Tờ cam kết” vào ngày 12/5/2023 ông H sẽ trả cho ông T số tiền 02 tỷ đồng.

Bị đơn ông Phan Quốc H thừa nhận có nhận 02 tỷ đồng từ ông T, nhưng cho rằng số tiền này ông vay giùm cho bà Nguyễn Thị A, sau các lần nhận tiền từ ông T thì ông H chuyển cho bà A; bà A cũng thừa nhận ông H vay giùm bà, bà đồng ý trả số tiền 02 tỷ đồng cho ông T. Bà A còn thừa nhận đã chuyển khoản số tiền 162.000.000 đồng cho ông H để ông H trả lãi cho ông T.

[2.2] Ngoài ra, bà A còn trình bày: do trả nợ cho phía ông T chậm trễ, để tạo lòng tin và gia hạn thêm thời gian trả nợ, bà A đã viết giấy thế chấp xe ô tô cho ông T. Hồ sơ thể hiện, ngày 12/05/2023 bà A lập “Giấy thế chấp tài sản” có nội dung: bà A có mượn 500.000.000 đồng của ông T, đồng thời có thế chấp xe ô tô biển số 95A 088.79 do Công ty TNHH MTV X đứng tên. Tuy nhiên, ông T cũng thừa nhận giữa ông T và bà A không giao nhận số tiền 500.000.000 đồng như nội dung Giấy thế chấp tài sản. Ngày bà A thế chấp xe ô tô trùng với ngày ông H lập Tờ cam kết: vào ngày 12/5/2023 ông H sẽ trả cho ông Nguyễn Chí T số tiền 02 tỷ đồng, nếu không trả đúng hẹn sẽ chịu trách nhiệm trước pháp luật. Lời khai của ông T và bà A mâu thuẫn nhau về mục đích bà A thế chấp xe ô tô nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa đối chất làm rõ mục đích hai bên lập Giấy thế chấp tài sản là để đảm bảo khoản vay nào?

Bên cạnh đó, theo Tờ cam kết ngày 10/5/2023, ông H cam kết vào ngày 12/5/2023 ông H sẽ trả cho ông T số tiền 02 tỷ đồng. Tuy nhiên, ngày 12/5/2023, ông T viết biên nhận có nội dung: ông T có nhận của ông H số tiền 500.000.000 đồng, nhưng hai bên lại cho rằng hai bên không có giao nhận số tiền này. Như Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ vì sao ông T lại viết biên nhận này nhưng lại không giao nhận tiền trên thực tế, không phải là tiền ông H trả nợ vay cho ông T.

8

Ông T cho rằng cho ông H là người vay tiền, ông H thì cho rằng vay giùm cho bà A, bà A cũng thừa nhận ông H vay tiền giùm cho bà, do trả nợ trễ hạn nên bà thế chấp xe ô tô cho ông T bà đồng ý trả nợ vay cho ông T. Như vậy, mối quan hệ vay mượn giữa ông T và ông H, giữa ông H và bà A cần xem xét giải quyết trong cùng một vụ án mới đảm bảo quyền lợi của các bên, tránh trường hợp đương sự có nghĩa vụ tẩu tán tài sản nhằm trốn tránh trách nhiệm trả nợ.

Những vi phạm dẫn đến phải hủy bản án sơ thẩm, phần lớn là do bà A vắng mặt nên cấp sơ thẩm chưa đối chất làm rõ, nên đây là do lỗi khách quan.

[3] Từ những nhận định và phần tích nêu trên cho thấy cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng mà cấp phúc thẩm không bổ sung được và việc giải quyết vụ án chưa toàn diện, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Do đó Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ để hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

[4] Án phí dân sự phúc thẩm: Không ai phải chịu.

[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Tuyên xử:

  1. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 104/2024/DS-ST ngày 15/5/2024 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
  2. Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Phan Quốc H được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu số 0001363 ngày 27/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- VKSND TPCT;

- TAND Q. Ninh Kiều;

- CCTHADS Q. Ninh Kiều;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Hoài Bình

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 430/2024/DS-PT ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản; hợp đồng thế chấp tài sản

  • Số bản án: 430/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản; hợp đồng thế chấp tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 104/2024/DS-ST ngày 15/5/2024 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger