|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 430/2023/HS-ST
Ngày: 25 - 8 - 2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hòa
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Công Danh – Cán bộ hưu trí;
- Ông Huỳnh Thế Cần – Nguyên Bí thư Đoàn phường Thống Nhất, thành phố Biên Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Quang Minh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hùng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 8 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 442/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 446/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2023 đối với:
Bị cáo Nguyễn Thanh S; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 17/01/2003 tại Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú: I, tổ A, khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: Tổ F, khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 06/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Họ tên cha: Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1975 (còn sống); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1984 (còn sống); Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất và chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 27/02/2023, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B (có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại: Cháu Nguyễn Hoàng Anh T1, sinh ngày 19 tháng 4 năm 2010; (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Phạm Thị Thu T2, sinh năm 1991;
Cùng địa chỉ: 5, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Hoàng Minh T3 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ. (có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung chính của vụ án:
Nguyễn Thanh S quen biết với cháu Nguyễn Hoàng Anh T1 (sinh ngày 19/4/2010, thường trú tại 58/4, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) thông qua mạng xã hội Facebook.
Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 21/02/2023, S điều khiển xe mô tô chở cháu T1 đi đến bờ kè phường H, thành phố B để uống nước. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, S chở T1 về nhà của S tại tổ F, khu phố A, phường B, thành phố B nấu mì ăn và ngồi trò chuyện với nhau. Sau đó, S trải chiếu ở phòng khách rồi cùng nằm với T1. Lúc này, S nói “Cho anh chơi nha”, T1 trả lời “ừ”. Sau đó, T1 tự cởi quần đang mặc trên người ra, S cũng cởi quần xuống tới đầu gối. S nằm đè lên người Thy và thực hiện hành vi giao cấu với T1. Sau đó, S chở T1 về nhà. Ngày 27/02/2023, chị Phạm Thị Thu T2 (mẹ ruột cháu T1) phát hiện sự việc nên đã dẫn cháu T1 đến Công an phường B tố cáo hành vi của S. Ngày 27/02/2023, Nguyễn Thanh S đến Công an phường B đầu thú. Quá trình điều tra Nguyễn Thanh S khai nhận hành vi phạm tội như trên.
* Vật chứng thu giữ:
- 01 điện thoại di động Samsung A01 của Nguyễn Thanh S, do không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho S.
* Tại Kết luận giám định pháp y đối với trẻ em bị hoặc nghi bị xâm hại tình dục số 0169/TDTE/2022 ngày 08/3/2023 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y kết luận:
“1. Dấu hiệu chính: Màng trinh rách cũ không hoàn toàn vị trí 09 giờ, bờ mép vết rách không phù nề, không xung huyết, không chảy máu.
2. Kết luận: Màng trinh: Hình hoa khế, đường kính lớn lỗ trinh 1,8cm. Màng trinh rách cũ không hoàn toàn vị trí 09 giờ, bờ mép vết rách không phù nề, không xung huyết, không chảy máu”.
* Trách nhiệm dân sự: Cháu Nguyễn Hoàng Anh T1 và chị Phạm Thị Thu T2 (mẹ cháu T1) không yêu cầu S bồi thường trách nhiệm dân sự.
2. Truy tố:
Tại Cáo trạng số: 440/CT-VKSBH ngày 01 tháng 8 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh S về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo quy định tại khoản 1 Điều 142 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
Áp dụng khoản 1 Điều 142 và điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh S từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 sáu) tháng tù.
Bị cáo Nguyễn Thanh S có mặt không có ý kiến tranh luận đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
3. Ý kiến của người tham gia tố tụng:
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại là bà Hoàng Minh T3 trình bày: Thống nhất về nội dung truy tố, định tội và khung hình phạt của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa. Bị cáo S đã lợi dụng sự thiếu hiểu biết của bị hại khi cháu T1 còn rất nhỏ (12 tuổi 10 tháng), hành vi phạm tội của bị cáo gây ảnh hưởng đến sự phát triển tâm sinh lý bình thường của trẻ em được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định mức hình phạt phù hợp, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.
4. Lời nói sau cùng:
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã mô tả, nhận thức được hành vi sai trái của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tố tụng:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, bị hại cháu Nguyễn Hoàng Anh T1 và người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Phạm Thị Thu T2 có đơn xin xét xử vắng mặt. Việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử do đã cung cấp đầy đủ lời khai cùng tài liệu, chứng cứ nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:
- Những chứng cứ xác định có tội:
Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản ghi lời khai, bản tự khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, biên bản xem xét dấu vết trên thân thể, biên bản kiểm tra điện thoại di động, kết luận giám định, biên bản ghi lời khai của bị hại và người làm chứng, biên bản đối chất cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 09 giờ 30 ngày 21/02/2023, tại nhà của Nguyễn Thanh S thuộc tổ F, khu phố A, phường B, thành phố B; Nguyễn Thanh S có hành vi lợi dụng cháu Nguyễn Hoàng Anh T1 (sinh ngày 19/4/2010) chưa đủ 13 tuổi và hạn chế hiểu biết đê dụ dỗ rủ cháu T1 ăn uống và giao cấu với cháu T1 01 (một) lần.
- Về tội danh:
Từ căn cứ trên, xác định bị cáo Nguyễn Thanh S phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo quy định tại khoản 1 Điều 142 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Như vậy, bản cáo trạng số 440/CT-VKSBH ngày 01 tháng 8 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân, đồng thời ảnh hưởng đến sự phát triển tâm sinh lý bình thường của trẻ em được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử lý tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
- Về nhân thân:
Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có nhân thân tốt (chưa có tiền án, tiền sự); bị cáo ra đầu thú và được đại diện hợp pháp của bị hại làm đơn xin bãi nại được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, vai trò, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Nguyễn Thanh S để đảm bảo sự nghiêm minh, khoan hồng của phát luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.
[3] Về trách nhiệm dân sự:
Gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đặt ra xem xét, giải quyết trong vụ án này.
[4] Về các vần đề khác:
01 điện thoại di động Samsung A01 của Nguyễn Thanh S, do không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho S là phù hợp và đúng theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Thanh S phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[6] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên, bị cáo tại phiên tòa:
- Đối với phần trình bày của Kiểm sát viên: Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị mức hình phạt là phù hợp quan điểm Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
- Đối với phần trình bày của bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại tại phiên tòa được Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 142; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh S phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh S 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/02/2023.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Buộc bị cáo Nguyễn Thanh S phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm;
- Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Hòa |
Bản án số 430/2023/HS-ST ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về hiếp dâm người dưới 16 tuổi
- Số bản án: 430/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hiếp dâm người dưới 16 tuổi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hiếp dâm người dưới 16 tuổi
