TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 430/2024/HS-ST Ngày 16 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Linh Thu Hồng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chánh.
Bà Vương Thị Khánh Loan
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trọng Duy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 434/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 439/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024, đối bị cáo:
Trần Dương Hồng P, sinh năm 1999 tại Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú:
105C/2, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nơi sinh sống: 110/146/3, khu phố 1, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Thợ mộc; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn H (đã chết) và bà Dương Thị T; Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 02/4/2024, đến ngày 11/4/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.
- Bị hại: Anh Trần Tiến D, sinh năm: 2003
Địa chỉ: Số A, khu phố I, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Người làm chứng: Anh Trần Dương Hồng Đ, sinh năm: 2001
Địa chỉ: Số A, khu phố I, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Bị cáo, bị hại có mặt, người làm chứng vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Dương Hồng P là anh trai của Trần Dương Hồng Đ, sinh năm 2001 và Trần Tiến D, sinh năm 2003. Cả ba chung sống tại nhà số A, khu phố I, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 01/4/2024, tại nhà địa chỉ nêu trên, P đi mua nước ngọt về thì anh Đ và anh D xin uống chung nhưng P không đồng ý nên xảy ra mâu thuẫn cãi vã, đánh nhau bằng tay giữa P với anh Ð, anh D nhưng không gây thương tích. Do buồn bực trước việc hai em hỗn láo với mình, P đi đến bàn thờ của ông Trần Văn H (là cha của P, Đ và D, chết năm 2022) và cầm di ảnh của ông H lên thì bị trượt chân ngã làm ảnh ông H rơi xuống đất. Thấy vậy, anh D đi đến dùng tay kẹp siết cổ P một lúc rồi buông P ra. Bực tức vì bị D kẹp cổ, P đi xuống bếp lấy 02 (hai) con dao Thái Lan cán màu vàng (mỗi con dao dài 22cm, cán dài 10 cm, lưỡi dao dài 12cm). P cầm mỗi tay một con dao đi đến chỗ D đang đứng và dùng tay phải cầm dao đâm một nhát trúng vùng ngực bên trái của anh D gây thương tích. Sau đó, anh D được anh Đ đưa đến Bệnh viện Đ1 điều trị thương tích.
Sau khi gây án, Trần Dương Hồng P đã đến Công an phường T đầu thú. Công an phường T lập hồ sơ và chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thụ lý.
- Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 0331/KLTTCT ngày 08/4/2024 của Trung tâm pháp y, Sở Y kết luận thương tích đối với anh Trần Tiến D:
Các kết quả chính:
Vết thương trùng với vết mổ vùng ngực trái khoang liên sườn 7 - 8 đường nách sau bên trái kích thước 4,8 x 0,2cm, tỷ lệ 01%
Vết mổ ngực trái kích thước 12 x 0,2cm, tỷ lệ 02%.
Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Tiến D tại thời điểm giám định là 03%.
Kết luận khác: Vật gây thương tích: Vật sắc nhọn.
- Tại bản Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 0512/KLTTCT ngày 04/6/2024 của Trung tâm pháp y, Sở Y kết luận thương tích đối với anh Trần Tiến D:
Các kết quả chính:
Đã được Trung tâm P1 giám định kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể trên người sống của Trần Tiến D tại thời điểm giám định là 03% (trong bản Kết luận số 0331/KLTTCT ngày 08/4/2024).
Sẹo mổ dẫn lưu ngực trái kích thước 2,5 x 0,1cm. Tỷ lệ: 02%.
Vết thương thuỳ dưới phổi trái đã phẫu thuật hiện để lại dải xơ xẹp vùng đáy phổi trái và vùng S6 phổi trái. Tỷ lệ 26%.
Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Tiến D tại thời điểm giám định bổ sung là 30%.
- Tại bản Kết luận giám định cơ chế tổn thương qua hồ sơ số 0574/KLGĐCC ngày 25/6/2024 của Trung tâm pháp y, Sở Y kết luận thương tích đối với anh Trần Tiến D:
Bệnh nhân D vào viện trong tình trạng: Bệnh tỉnh, da niêm nhợt nhạt, mạch 130 lần/phút, nhiệt độ 37 độ C, huyết áp 110/70 mmHg, 01 vết thương đường nách giữa, khoang liên sườn 7-8 trái, kích thước khoảng 02cm, độ sâu không rõ. CT-Scanner ngực: Tràn dịch - tràn khí màng phổi trái lượng nhiều/ Xẹp thụ động phổi trái. Với các tổn thương như trên và diễn biến, triệu chứng được ghi nhận khi vào viện, thuộc loại cấp cứu có trì hoãn vì vậy ngay lập tức sẽ không nguy hại đến tính mạng của nạn nhân.
Vật chứng vụ án: 02 (hai) con dao Thái Lan cán màu vàng (mỗi con dao dài 22cm, cán dài 10cm, lưỡi dao dài 12cm) là công cụ bị cáo P sử dụng vào việc phạm tội.
Trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Trần Tiến D không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Tại Cáo trạng số 439/CT-VKSBH ngày 25 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Trần Dương Hồng P về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, tuyên bị cáo Trần Dương Hồng P phạm tội “Cố ý gây thương tích” và đề nghị xử phạt bị cáo Trần Dương Hồng P từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Ý kiến của bị hại anh Trần Tiến D trình bày:
Bị hại và bị cáo Trần Dương Hồng P là anh em ruột, sư việc xảy ra nguyên nhân xuất phát từ việc bị hại và anh Đ gây sự với bị cáo trước, sau đó bị cáo làm rơi di ảnh cha xuống đất, bị hại đã dùng tay kẹp siết cổ bị cáo làm cho bị cáo bị nghẹt thở mới bỏ tay ra, dẫn đến bị cáo nóng giận không kiềm chế được nên mới có hành vi gây thương tích cho bị hại. Cha của bị cáo và bị hại mất từ năm 2022, mẹ đi làm xa không ở nhà, hàng ngày P là người đi làm kiếm tiền nuôi bị hại và anh Đ. Bị hại xác định không yêu cầu bị cáo bồi thường và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Bị cáo thống nhất về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo không có ý kiến hay tranh luận gì khác.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng hình sự:
[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[1.2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng tại phiên tòa: Tại phiên tòa người làm chứng vắng mặt. Trong giai đoạn điều tra người làm chứng đã có lời khai tại hồ sơ. Do vậy việc vắng mặt của người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Dương Hồng P có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có sự mâu thuẫn và phù hợp với nội dung Cáo trạng, lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án nên đã đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 11 giờ 45 phút ngày 01/4/2024, tại nhà số A, khu phố I, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Do mâu thuẫn trong sinh hoạt dẫn đến Trần Dương Hồng P và Trần Tiến D, Trần Dương Hồng Đ (đều là em trai P) xảy ra cãi vã, xô xát, D dùng tay kẹp siết cổ P nên P lấy một con dao Thái Lan cán màu vàng dài 22cm, cán dài 10cm, lưỡi dao dài 12cm đâm vào vùng ngực trái của anh Trần Tiến D gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 30%.
[3] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ khả năng nhận thức lựa chọn những cách xử sự phù hợp, bị cáo nhận thức được việc dùng hung khí đâm vào cơ thể con người sẽ gây ra những thương tích nặng nề, thậm chí có thể dẫn đến tử vong, nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo P là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền được pháp luật bảo vệ về sức khỏe của bị hại. Do vậy cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Trong vụ án, bị hại anh Trần Tiến D cũng có một phần lỗi là dùng tay kẹp siết cổ P trước khi bị P đâm gây thương tích.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có nhân thân tốt (chưa có tiền án, tiền sự); sau khi phạm tội đã ra đầu thú. Bị cáo và bị hại là anh em ruột, sự việc xảy ra xuất phát từ mâu thuẫn nhất thời trong gia đình, trong vụ án này bị hại cũng có một phần lỗi và đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[6] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) con dao Thái lan cán màu vàng (mỗi con dài 22cm, cán dài 10 cm, lưỡi dao dài 12 cm).
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Trần Tiến D không yêu cầu bị cáo bồi thường, nên không xem xét.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[9] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
Xét đề nghị về mức hình phạt đối với bị cáo là chưa tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Các vấn đề còn lại là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Trần Dương Hồng P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Trần Dương Hồng P 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/4/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) con dao Thái lan cán màu vàng (mỗi con dài 22cm, cán dài 10 cm, lưỡi dao dài 12 cm).
(Vật chứng nêu trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa theo Quyết định chuyển vật chứng số 7323/QĐ-VKSBH ngày 25/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 08/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Biên Hòa).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Trần Dương Hồng P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Linh Thu Hồng |
Bản án số 430/2024/HS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 430/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Dương Hồng Phúc Cố ý gây thương tích
