|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 430/2025/HNGĐ-ST
Ngày 27 tháng 6 năm 2025
V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đồng Thị Lai.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Phạm Thị Kim Dung
- Bà Ngô Thùy Linh.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Quang Huy -Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa:
Bà Bùi Mai Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 372/TLST- HNGĐ ngày 06/6/2025 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 223/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2025 giữa:
Nguyên đơn: Anh Thiều Hoàng G, sinh năm 1977.
Nơi thường trú: Khu A, T, Phú Thọ.
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 1982.
Nơi thường trú: Số B ngõ F, H, Vĩnh Phúc, B, Hà Nội.
Đang thi hành án tại Đội 6, phân trại 1, Trại giam Q, Tuyên Quang.
(Anh G có mặt, chị T vắng mặt)
NHẬN THẤY:
Theo đơn khởi kiện ngày 01/6/2025 và các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn anh Thiều Hoàng G trình bày:
Anh và chị Nguyễn Thị Bích T đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ (nay là xã Đ), huyện T, tỉnh Phú Thọ ngày 10/5/2016.
Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do quan điểm sống và tính cách không còn hợp nhau. Chị T vi phạm pháp luật nên đã bị Tòa án xử phạt tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Hiện nay chị T đang thi hành án tại trại giam Q, Tuyên Quang.
Nay anh thấy tình cảm vợ chồng không còn. Do đó anh làm đơn xin ly hôn chị T. Đề nghị Tòa án giải quyết cho anh ly hôn với chị T để anh ổn định cuộc sống nuôi dạy con cái.
Về con: Anh và chị T có 03 con chung là Thiều Công V, sinh ngày 02/3/2015, Thiều Quang M, sinh ngày 19/8/2017 và Thiều Anh D, sinh ngày 18/10/2019. Anh xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả ba con chung, không yêu cầu chị T đóng góp tiền nuôi con.
Về tài sản và nhà ở chung: Anh và chị T không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về công nợ: Anh và chị T không vay nợ ai, không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai chị Nguyễn Thị Bích T trình bày:
Chị và anh G có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn vào ngày 10/5/2016 tại UBND xã Đ (nay là xã Đ), huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2023 chị vi phạm pháp luật. Năm 2024 Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt chị 14 năm tù giam về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Cùng năm 2024 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt chị 15 năm tù cũng về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp hình phạt là 29 năm tù. Hiện chị đang chấp hành án tại trại giam Q. Nay trước yêu cầu xin ly hôn của anh G chị đồng ý ly hôn.
Về con chung: Quá trình chung sống chị và anh G có 03 con chung là Thiều Công V, sinh ngày 02/3/2015, Thiều Quang M, sinh ngày 19/8/2017 và Thiều Anh D, sinh ngày 18/10/2019. Khi ly hôn chị đồng ý để anh G nuôi dưỡng cả ba con chung và chị không phải đóng góp tiền nuôi con chung.
Về tài sản, nhà ở chung: Chị và anh G không có tài sản, nhà ở chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về vay nợ: Chị và anh G không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Hiện nay chị đang chấp hành án tại Phân trại 1, trại giam Q, Tuyên Quang nên chị không thể đến Tòa án nhân dân quận Ba Đình để giải quyết việc ly hôn. Chị xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết, hòa giải, xét xử. Đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt chị.
Tại phiên tòa:
Anh G vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với chị T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Tài liệu có trong hồ sơ vụ án cho thấy mâu thuẫn vợ chồng anh G và chị T đã trầm trọng, không có khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị T đồng ý ly hôn nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh G, cho anh G ly hôn chị T.
Giao cả ba con chung cho anh G chăm sóc nuôi dưỡng, tạm hoãn việc đóng góp tiền nuôi con chung đối với chị T. Về tài sản và nhà ở: Anh G và chị T không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh G phải chịu 300.000 đồng án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về việc vắng mặt đương sự:
Chị Nguyễn Thị Bích T đã được tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, chị T có lời khai xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt chị T.
[2]. Về nội dung:
Anh Thiều Hoàng G và chị Nguyễn Thị Bích T đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ (nay là xã Đ), huyện T, tỉnh Phú Thọ ngày 10/5/2016 Đây là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian sau đó phát sinh mâu thuẫn. Chị T vi phạm pháp luật nên đã bị Tòa án xử phạt tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Anh G xác định tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn chị T. Chị T cũng đồng ý ly hôn anh G.
Xét thấy, cuộc hôn nhân của anh G và chị T không có khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt. Nay chị T đồng ý ly hôn anh G. Do đó căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho anh G ly hôn chị T.
Về con chung: Anh G và chị T có 03 con chung là Thiều Công V, sinh ngày 02/3/2015, Thiều Quang M, sinh ngày 19/8/2017 và Thiều Anh D, sinh ngày 18/10/2019.
Anh G xin nuôi cả ba con chung, không yêu cầu chị T đóng góp tiền nuôi con.
Xét việc giao con cho ai chăm sóc, nuôi dưỡng phải căn cứ vào quyền và lợi ích của con, hiện nay chị T đang chấp hành án phạt tù và cũng đồng ý giao cả ba con cho anh G nuôi dưỡng. Do đó giao ba con chung cho anh G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc đóng góp tiền nuôi con chung đối với chị T cho đến khi anh G có yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác.
Chị Nguyễn Thị Bích T có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
Về tài sản và nhà ở, công nợ: Anh G và chị T không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.
Về án phí: Anh G phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Anh Giang có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị T vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Tòa án nên được chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 56, 58; 59; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Áp dụng các Điều 28; 144; 147; 227; 271; 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Xử:
1, Chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Thiều Hoàng G.
Anh Thiều Hoàng G ly hôn chị Nguyễn Thị Bích T.
2, Về con chung: Anh Thiều Hoàng G và chị Nguyễn Thị Bích T có 03 con chung là Thiều Công V, sinh ngày 02/3/2015, Thiều Quang M, sinh ngày 19/8/2017 và Thiều Anh D, sinh ngày 18/10/2019.
Giao cả ba con chung cho anh Thiều Hoàng G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc đóng góp tiền nuôi con chung đối với chị Nguyễn Thị Bích T cho đến khi anh Thiều Hoàng G có yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác.
Chị Nguyễn Thị Bích T có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
3, Về tài sản và nhà ở, công nợ: Anh Thiều Hoàng G và chị Nguyễn Thị Bích T không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.
4, Về án phí: Anh Thiều Hoàng G phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Được trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0031642 ngày 06/6/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình.
Anh Thiều Hoàng G có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Chị Nguyễn Thị Bích T vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đồng Thị Lai |
Bản án số 430/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 430/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn
