| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Bản án số: 430/2024/HC-PT Ngày: 12-6-2024 V/v: Khiếu kiện quyết định hành |
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên Tòa: Ông Hoàng Minh Thịnh
Các Thẩm phán: Ông Phạm Công Mười
Ông Chung Văn Kết
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Vi Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở; Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án thụ lý số: 1050/2023/TLPT-HC ngày 18/12/2023 về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số: 50/2023/HC-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1213/2024/QĐ-PT ngày 23 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Lê Minh H, sinh năm 1952; cư trú ấp T, thị trấn C, huyện C, Thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1983; cư trú số A, đường T, phường H, quận N, Thành phố Cần Thơ. (có mặt)
- Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Cần Thơ
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Chí P – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Cần Thơ. (xin xét xử vắng mặt)
Trụ sở nơi làm việc tại thị trấn C, huyện C, Thành phố Cần Thơ
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện:
Ông Trần Sơn D – Chuyên viên Văn phòng HĐND và UBND huyện
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Cần Thơ
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Trường T1 - Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Cần Thơ. (xin xét xử vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của UBND huyện C:
Ông Nguyễn Tuấn K – Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện. (văng mặt)
2. Bà Thạch Thị T2; cư trú ấp T, thị trấn C, huyện C, Thành phố Cần Thơ.
3. Ông Liêu S, sinh năm 1951; cư trú ấp T, thị trấn C, huyện C, Thành phố Cần Thơ.
4. Bà Võ Thị N, sinh năm 1962; cư trú ấp T, thị trấn C, huyện C, Thành phố Cần Thơ.
5. Ông Nguyễn Quang T3, sinh năm 1966; cư trú ấp T, thị trấn C, huyện C, Thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền cho ông Liêu S, bà Võ Thị N, ông Nguyễn Quang T3: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1989; cư trú ấp T, xã T, huyện T, Thành phố Cần Thơ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Luật sư Châu Văn B, thuộc Đoàn luật sư Thành phố C.
-Người kháng cáo: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan các ông bà Liêu S, Võ Thị N, Nguyễn Quang T3.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Phần trình bày của người khởi kiện theo đơn khởi kiện ngày 23 tháng 5 năm 2022 và trong quá trình tố tụng như sau:
Khi còn sống, cha của người khởi kiện là cụ ông Lê Minh T4 (chết năm 1996) trực tiếp quản lý, sử dụng từ thời Pháp và có đứng tên trong Hồ sơ địa chính thiết lập năm 1991 quyền sử dụng đất có diện tích 5.434m² thuộc thửa đất số 07, tờ bản đồ số 01; vị trí đất tại ấp T, thị trấn C, huyện C, Thành phố Cần Thơ.
Sau này, khi cụ ông Lê Minh T4 chết, cụ bà Phan Thị M – là vợ cụ ông Lê Minh T4 – và các con gồm ông Lê Minh N1 (sinh năm 1964), bà Lê Thị Minh T5 (sinh năm 1967), bà Lê Minh X (sinh năm 1975) cùng làm văn bản từ chối nhận di sản có xác nhận của Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, Thành phố Cần Thơ vào ngày 22 tháng 11 năm 2004.
Ngày 29 tháng 4 năm 2005, giữa người khởi kiện và các hộ dân Đào T6, Đào T7, Đào Thị P1, Dương Văn H1, Thạch U, Đào Thị H2, Đào K1, L, Nguyễn Văn T8 có lập một thỏa thuận xác định ranh giới sử dụng đất như sau: cặp lộ 922 đo về hướng kinh Bốn Tổng 30 mét là ranh giới sử dụng đất của người khởi kiện; tiếp theo mốc 30 mét hướng về kinh Bốn Tổng là ranh giới sử dụng đất của các hộ dân; về phần hoa màu trên đất thì khi nào người khởi kiện yêu cầu thì các hộ dân sẽ trả lại; riêng hộ ông Nguyễn Văn T8 đồng ý trả lại quyền sử dụng đất cho người khởi kiện nhưng yêu cầu người khởi kiện hỗ trợ chi phí san lắp mặt bằng.
Ngày 01 tháng 6 năm 2005, Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, Thành phố Cần Thơ tổ chức phiên hòa giải để giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất giữa người khởi kiện với các hộ dân lấn chiếm đất gồm hộ bà Đào Thị H2, hộ bà Đào Thị P2, hộ ông Đào K1, hộ bà Đào Thị P1, hộ ông Liêu S, hộ ông Nguyễn Văn H3, hộ ông Nguyễn Văn T9. Trong biên bản, các hộ dân đều thừa nhận nguồn gốc đất của cụ ông Lê Minh T4, các hộ dân đã tự ý lấn chiếm sử dụng và có thể hiện nguyện vọng là được người khởi kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Việc sử dụng ranh giới đất lấn chiếm vẫn xác định theo biên bản ngày 11 tháng 9 năm 2001 (người khởi kiện không cung cấp được biên bản này vì không có lưu trữ) và ngày 29 tháng 4 năm 2005.
Ngày 07 tháng 7 năm 2005, người khởi kiện – là con đầu của cụ ông Lê Minh T4 và cụ bà Phan Thị M – làm đơn xin thừa kế quyền sử dụng đất thửa đất số 07, tờ bản đồ số 01, diện tích 2.745m² theo sự thỏa thuận tại biên bản giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất ngày 01 tháng 6 năm 2005 của Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, Thành phố Cần Thơ.
Ngày 23 tháng 9 năm 2005, Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Cần Thơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00158 cho người khởi kiện quyền sử dụng đất thửa đất số 07, tờ bản đồ số 01, diện tích 2.745m², loại đất chuyên dùng.
Năm 2006, người khởi kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị P3 phần đất có diện tích 147,6m² và chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn T10 phần đất có diện tích 147,6m².
Vì vậy, ngày 03 tháng 5 năm 2006, Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Cần Thơ cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ thửa đất số 07 ban đầu của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00158 thành 04 (bốn) thửa đất theo 04 (bốn) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như sau:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00277, diện tích 147,6m², thửa đất số 548, tờ bản đồ số 01, loại đất chuyên dùng cho ông Nguyễn Văn T10;
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00278, diện tích 147,6m², thửa đất số 549, tờ bản đồ số 01, loại đất chuyên dùng cho bà Nguyễn Thị P3;
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00279 diện tích 1.858m², thửa đất số 07, tờ bản đồ số 01, loại đất chuyên dùng cho ông Lê Minh H;
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00280, diện tích 589m², thửa đất số 550, tờ bản đồ số 01, loại đất chuyên dùng cho ông Lê Minh H.
Ngày 28 tháng 12 năm 2007, Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Cần Thơ ban hành 02 (hai) quyết định thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho người khởi kiện:
Quyết định số 4086/QĐ-UBND về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00279 diện tích 1.858m², thửa đất số 07, tờ bản đồ số 01, loại đất chuyên dùng cho ông Lê Minh H;
Quyết định số 4087/QĐ-UBND về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00280 diện tích 589m², thửa đất số 550, tờ bản đồ số 01, loại đất chuyên dùng cho ông Lê Minh H.
Ngày 01 tháng 02 năm 2021, Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Cần Thơ ban hành các quyết định về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho người khởi kiện: Quyết định số 364/QĐ-UBND về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00279 và Quyết định số 363/QĐ-UBND về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00280.
Ngày 24 tháng 01 năm 2022, người khởi kiện làm đơn khiếu nại đến Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Cần Thơ.
Ngày 27 tháng 4 năm 2022, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Cần Thơ ban hành Quyết định số 1054/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) là không công nhận nội dung khiếu nại của người khởi kiện khiếu nại không thống nhất Công văn số 2743/UBND-PTNMT ngày 29 tháng 12 năm 2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Cần Thơ về việc trả lời đơn xin giao đất có thu tiền sử dụng đất của ông Lê Minh H là không có cơ sở xem xét.
Nay, người khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 1054/QĐ-UBND ngày 27 tháng 4 năm 2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Cần Thơ về việc giải quyết khiếu nại của ông Lê Minh H (lần đầu); đồng thời, yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Cần Thơ chấp thuận phương án xin giao đất có thu tiền sử dụng đất cho ông Lê Minh H (chủ đất gốc) thuộc khu chồng lấn ấp T, thị trấn C, huyện C, Thành phố Cần Thơ.
Phần trình bày của người bị kiện:
Phần đất mà người khởi kiện yêu cầu xin giao đất có thu tiền sử dụng đất có nguồn gốc thuộc chứng thư cấp quyền sở hữu của một số hộ dân và phần đất cặp kinh Bốn Tổng từ trước năm 1954.
Ngày 25 tháng 01 năm 1977, Bộ N2 ban hành Quyết định số 50/QĐ về việc thành lập Nông trường C do Bộ quản lý.
Năm 1987, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 247/HĐBT chuyển giao Nông trường C cho Ủy ban nhân dân tỉnh H quản lý.
Ngày 11 tháng 3 năm 1997, Ủy ban nhân dân tỉnh C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00023 cho Nông trường Quốc doanh Cờ Đỏ thì toàn bộ diện tích đất khu chồng lấn đã cấp giấy cho Nông trường.
Vì vậy, ngày 01 tháng 02 năm 2021, Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Cần Thơ ban hành các quyết định về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho người khởi kiện: Quyết định số 364/QĐ-UBND về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00279 và Quyết định số 363/QĐ-UBND về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00280.
Ngày 24 tháng 01 năm 2022, người khởi kiện làm đơn khiếu nại đến Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Cần Thơ.
Ngày 18 tháng 02 năm 2022, Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Cần Thơ ban hành Thông báo số 284/TB-UBND về việc thụ lý khiếu nại và Quyết định số 482/QĐ-UBND về việc giao nhiệm vụ xác minh nội dung khiếu nại của người khởi kiện.
Trên cơ sở thẩm tra xác minh của Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố C tại Báo cáo số 674/BC-STNMT ngày 05 tháng 12 năm 2006, ý kiến chỉ đạo của Ủy ban nhân dân Thành phố C về việc giải quyết đất chồng lấn giữa Nông trường C và các hộ dân huyện C, Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Cần Thơ đã ban hành các quyết định thu hồi đất, hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho người khởi kiện là đúng quy định pháp luật theo quy định tại Điều 42 của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai năm 2003: “thẩm quyền đính chính, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai năm 2013: “về thu hồi giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định pháp luật” và khoản 7 Điều 87 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ: “về hủy giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định pháp luật”.
Việc người khởi kiện khiếu nại không thống nhất Công văn số 2743/UBND-PTNMT ngày 29 tháng 12 năm 2021 của Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Cần Thơ về việc xin giao đất có thu tiền sử dụng đất cho ông Lê Minh H (chủ đất gốc) thuộc khu chồng lấn ấp T, thị trấn C, huyện C, Thành phố Cần Thơ là không có cơ sở xem xét được giao đất có thu tiền sử dụng đất vì:
- + Các giấy chứng nhận đã cấp cho người khởi kiện đã bị Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Cần Thơ thu hồi, hủy bỏ theo quy định.
- + Căn cứ Điều 21 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai: “căn cứ xác định việc sử dụng đất ổn định”. Nhận thấy, người khởi kiện sử dụng đất không ổn định và không liên tục nên không đủ điều kiện để giao đất có thu tiền sử dụng đất theo quy định.
- + Hơn nữa, Công văn số 1166/UBND-KT ngày 31 tháng 3 năm 2016 của Ủy ban nhân dân Thành phố C về việc giao đất có thu tiền sử dụng đất đối với các hộ gia đình, cá nhân sử dụng phần đất thuộc khu chồng lấn tại ấp T, thị trấn C, huyện C, Thành phố Cần Thơ.
- + Qua rà soát, kiểm tra hồ sơ bồi thường, hỗ trợ dự án tuyến giao thông Bốn Tổng – Một Ngàn (đoạn từ thị trấn C đến giáp ranh huyện V) vào năm 2006 thì người khởi kiện không có hồ sơ bồi thường, hỗ trợ dự án nên trên. Hội đồng bồi thường chỉ bồi thường, hỗ trợ cho các hộ Thạnh Thị T11, L, Võ Thị N, Đào Thị H2 (nay có Nguyễn Quang T3 tham gia trong vụ án), Đào H4, Đào K1, Nguyễn Văn T9.
Ngày 27 tháng 4 năm 2022, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Cần Thơ ban hành Quyết định số 1054/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) là không công nhận nội dung khiếu nại của người khởi kiện khiếu nại không thống nhất Công văn số 2743/UBND-PTNMT ngày 29 tháng 12 năm 2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Cần Thơ về việc trả lời đơn xin giao đất có thu tiền sử dụng đất của ông Lê Minh H là không có cơ sở xem xét.
Do vậy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Cần Thơ thụ lý, giải quyết đơn khiếu nại của người khởi kiện là đúng về trình tự, thủ tục. Nội dung Quyết định số 1054/QĐ-UBND ngày 27 tháng 4 năm 2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Cần Thơ về việc giải quyết khiếu nại của ông Lê Minh H (lần đầu) bác đơn khiếu nại là đúng quy định của pháp luật.
Phần trình bày của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Phần trình bày của Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Cần Thơ:
Phần đất thuộc khu chồng lấn do Nhà nước quản lý từ năm 1977 theo Quyết định số 50/QĐ ngày 25 tháng 01 năm 1977 của Bộ N2 và được Ủy ban nhân dân tỉnh C (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Nông trường Cờ Đỏ nên việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Minh H và một số hộ dân là sai.
Trên cơ sở thẩm tra xác minh của Sở T tại Báo cáo số 674/BC-STNMT ngày 05 tháng 12 năm 2006 và ý kiến chỉ đạo của Ủy ban nhân dân Thành phố C tại Công văn số 5090/UBND-QH ngày 13 tháng 12 năm 2006 của Ủy ban nhân Thành phố C về việc giải quyết việc chồng lấn đất giữa Nông trường C và các hộ dân huyện C, Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Cần Thơ đã ban hành các quyết định thu hồi đất, hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Lê Minh H là đúng quy định của pháp luật.
Việc ông Lê Minh H khiếu nại không thống nhất Công văn số 2743/UBND-PTNMT ngày 29 tháng 12 năm 2021 của Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Cần Thơ về việc trả lời đơn xin giao đất có thu tiền sử dụng đất – đất thuộc khu chồng lấn ấp T, thị trấn C, huyện C, Thành phố Cần Thơ; đồng thời, đề nghị được giao đất có thu tiền sử dụng đất là không có cơ sở xem xét, giải quyết. Bởi vì, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00158 cấp cho ông Lê Minh H đã bị Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Cần Thơ thu hồi, hủy bỏ theo quy định tại Điều 21 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013 về căn cứ “xác định việc sử dụng đất ổn định”. Nhận thấy, việc sử dụng đất của ông Lê Minh H thuộc trường hợp sử dụng đất không liên tục và không ổn định nên không đủ điều kiện để được giao đất có thu tiền sử dụng đất. Hơn nữa, Công văn số 1166/UBND-KT ngày 31 tháng 3 năm 2016 của Ủy ban nhân dân Thành phố C về việc giao đất có thu tiền sử dụng đất đối với các trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng phần đất thuộc khu chồng lấn tai ấp T, thị trấn C, huyện C, Thành phố Cần Thơ. Qua rà soát, kiểm tra hồ sơ bồi thường, hỗ trợ dự án tuyến giao thông Bốn Tổng – Một Ngàn (đoạn từ thị trấn C đến giáp ranh huyện V) vào năm 2006 thì phần diện tích ông Lê Minh H xin giao đất không có trong hồ sơ bồi thường, hỗ trợ. Vì vậy, yêu cầu xem xét, giao đất có thu tiền sử dụng đất cho ông Lê Minh H là không có cơ sở xem xét, giải quyết.
Trên cơ sở đó, Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Cần Thơ kiến nghị Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ giữ nguyên Công văn số 2743/UBND-PTNMT ngày 29 tháng 12 năm 2021 của Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Cần Thơ.
Phần trình bày của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Liêu S:
Ông đang trực tiếp sử dụng quyền sử dụng đất có chiều ngang 6,5m, chiều dài 30m, diện tích 195m² với tứ cận như sau: cạnh ngang trước giáp Đường T (đường B – Một Ngàn), cạnh ngang sau giáp và nối liền với thửa đất mà ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cạnh dài bên trái nhìn từ Đường tỉnh 919 vô giáp với phần đất của hộ bà Đào Thị B1, cạnh dài bên phải nhìn từ Đường tỉnh 919 vô giáp với phần đất của hộ bà Võ Thị N.
Nguồn gốc quyền sử dụng đất này là do ông bà lấn chiếm đất của Nhà nước từ năm 1980 đến nay.
Nay, yêu cầu được công nhận quyền sử dụng đất trên vì sử dụng lâu dài, liên tục vì là người đang trực tiếp sử dụng đất.
Phần trình bày của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị N:
Bà đang trực tiếp sử dụng quyền sử dụng đất có chiều ngang 6,5m, chiều dài 30m, diện tích 195m² với tứ cận như sau: cạnh ngang trước giáp Đường T (đường B – Một Ngàn), cạnh ngang sau giáp và nối liền với thửa đất mà bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cạnh dài bên trái nhìn từ Đường tỉnh 919 vô giáp với phần đất của hộ ông Liêu S, cạnh dài bên phải nhìn từ Đường tỉnh 919 vô giáp với phần đất của hộ ông Nguyễn Văn T9.
Nguồn gốc quyền sử dụng đất này là do ông bà lấn chiếm đất của Nhà nước từ năm 1980 đến nay.
Nay, yêu cầu được công nhận quyền sử dụng đất trên vì sử dụng lâu dài, liên tục vì là người đang trực tiếp sử dụng đất.
Phần trình bày của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quang T3:
Ông là con trai của bà Đào Thị H2. Gia đình ông đang trực tiếp sử dụng quyền sử dụng đất có chiều ngang 6,5m, chiều dài 30m, diện tích 195m² với tứ cận như sau: cạnh ngang trước giáp Đường T (đường B – Một Ngàn), cạnh ngang sau giáp và nối liền với thửa đất mà ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cạnh dài bên trái nhìn từ Đường tỉnh 919 vô giáp với phần đất của hộ ông Liêu S, cạnh dài bên phải nhìn từ Đường tỉnh 919 vô giáp với phần đất của hông Nguyễn Văn T9.
Nguồn gốc quyền sử dụng đất này là do ông bà lấn chiếm đất của Nhà nước từ năm 1980 đến nay.
Nay, yêu cầu được công nhận quyền sử dụng đất trên vì sử dụng lâu dài, liên tục vì là người đang trực tiếp sử dụng đất.
Tại bản án hành chính sơ thẩm số: 50/2023/HS-CT ngày 28/9/2023
của Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ đã quyết định:
Áp dụng: khoản 4 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, điểm b khoản 2 Điều 193 của Luật tố tụng hành chính năm 2015;
Tuyên án:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện ông Lê Minh H.
Hủy Công văn số 2743/UBND-PTNMT ngày 29 tháng 12 năm 2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Cần Thơ về việc trả lời đơn xin giao đất có thu tiền sử dụng đất của người khởi kiện và Quyết định số 1054/QĐ-UBND ngày 27 tháng 4 năm 2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Cần Thơ về việc giải quyết khiếu nại của ông Lê Minh H (lần đầu); đồng thời, yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Cần Thơ chấp thuận phương án xin giao đất có thu tiền sử dụng đất cho ông Lê Minh H (chủ đất gốc) thuộc khu chồng lấn ấp T, thị trấn C, huyện C, Thành phố Cần Thơ.
Kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Cần Thơ xét cho người khởi kiện ông Lê Minh H được giao đất có thu tiền sử dụng đất đối với quyền sử dụng đất theo đo đạc hiện trạng là 750,7m² theo Bản trích đo địa chính của Trung tâm K2 thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố C xác lập ngày 24 tháng 8 năm 2023.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, người khởi kiện và người bị kiện không kháng cáo. Vào ngày 09/10/2023 những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bà Võ Thị N, ông Liêu S và ông Nguyễn Quang T3 có đơn kháng cáo đề nghị huỷ toàn bộ Bản án sơ thẩm.
- Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện theo uỷ quyền của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan giữ nguyên nội dung kháng cáo đề nghị huỷ toàn bộ Bản án sơ thẩm vì Tòa án cấp sơ thẩm có nhiều vi phạm tố tụng, đặc biệt là việc ủy quyền của người bị kiện là không đúng pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử phúc thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính. Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo luật định.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và giữ nguyên Bản án sơ thẩm (có bài phát biểu kèm theo).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về đối tượng khởi kiện, về thẩm quyền xét xử, về thời hiệu khởi kiện như nhận định của Tòa án cấp sơ thẩm là đúng quy định pháp Luật Tố tụng hành chính.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Liêu Sách, Võ Thị N và Nguyễn Quang T3 đề nghị huỷ toàn bộ Bản án sơ thẩm:
[2.1] Người khởi kiện cho rằng ông Lê Chí P với chức vụ là Phó chủ tịch UBND huyện C, Thành phố Cần Thơ không được ủy quyền tham gia tố tụng nhưng lại có văn bản xin xét xử vắng mặt và Tòa án cấp sơ thẩm đồng ý cho vắng mặt là không đúng, vi phạm nghiêm trọng tố tụng, Hội đồng xét xử xét trong vụ án này người bị kiện là Chủ tịch UBND huyện C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND huyện C. Quá trình tham gia tố tụng tại cấp sơ thẩm thì Chủ tịch UBND huyện C ủy quyền cho ông Phạm Minh T12, phó chủ tịch và ông T12 có văn bản xin xét xử vắng mặt. Như vậy, quyền, nghĩa vụ của Chủ tịch UBND huyện C và UBND huyện C là như nhau, do đó việc vắng mặt của UBND huyện C không ảnh hưởng đến quyền lợi của UBND huyện C.
[2.2] Căn cứ theo bản trích đo địa chính ngày 24/8/2023 của Trung tâm K2 – Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố C thể hiện diện tích đất ông Lê Minh H yêu cầu được giao đất có thu tiền sử dụng đất là 750,7m2 thuộc một phần thửa 07 và một phần thửa 550 tờ bản đồ số 01, toạ lạc tại thị trấn C, huyện C, Thành phố Cần Thơ. Phía người bị kiện là UBND huyện C cho rằng phần diện tích đất nêu trên là thuộc phần đất chồng lấn giữa Nông trường C và UBND thị trấn C có nguồn gốc của một số hộ dân và chủ đồn điền từ trước năm 1954, gia đình ông H không có đất gốc tại khu chồng lấn này và ông H sử dụng đất không liên tục, không ổn định nên không đủ điều kiện giao đất có thu tiền sử dụng đất. Xét lập luận này của UBND huyện C là không phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, cụ thể:
[2.3] Người khởi kiện là ông Lê Minh H và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm ông Liêu S, bà Võ Thị N, ông Nguyễn Quang T3 – con trai bà Đào Thị H2 – đều thống nhất xác định rằng cụ ông Lê Minh T4 (cha ông H) chính là người sử dụng quyền sử dụng đất có diện tích 5.434m² thuộc thửa đất số 07, tờ bản đồ số 01 từ thời Pháp (bao gồm phần đất 750,7m² mà người khởi kiện xin giao đất có thu tiền sử dụng đất và phần đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Liêu S, bà Võ Thị N, bà Đào Thị H2). Sau khi có chính sách cải cách ruộng đất thì cụ ông Lê Minh T4 vẫn là người đứng tên quyền sử dụng thửa đất số 07 nói trên trong Hồ sơ địa chính. Nội dung này phù hợp với Danh sách đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tờ bản đồ số 01, đất tại ấp T, xã T, huyện Ô, tỉnh Cần Thơ (cũ), người đăng ký là ông Lê Minh T4, thửa đất số 07, diện tích 5.434m², loại đất CDK; Biên bản thỏa thuận về việc xác định nguồn gốc đất năm 2001 do Hội đồng đăng ký Đất đai thị trấn C, huyện Ô, tỉnh Cần Thơ (cũ) tổ chức xác minh nguồn gốc đất và quá trình sử dụng đất của hộ ông Lê Minh H, thửa đất số 07, diện tích 5.434m², tờ bản đồ số 01 tại ấp T, thị trấn C, huyện Ô, tỉnh Cần Thơ (cũ) ghi nhận nội dung: “Ông H cho rằng đất của ông bà để lại, ông không đòi lại hết phần đất của gia đình, ông chỉ xin lại phần đất cặp lộ Nông trường xuống sông B 30 mét. Kết luận: từ kinh ấp chiến lược xuống sông B thì thuộc quyền sử dụng của 16 hộ dân; từ mé ranh ấp chiến lược ra lộ Nông trường thì thuộc quyền sử dụng của ông H. Nếu các hộ dân không có ranh ấp chiến lược thì thỏa thuận ông H 1/3 diện tích, 2/3 còn lại của bà con”.
[2.4] Ngoài ra, theo nội dung tờ thỏa thuận ngày 29 tháng 4 năm 2005 do Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, Thành phố Cần Thơ lập giữa hộ ông Lê Minh H và các hộ dân Đào T13, Đào T1, Đào Thị P1, Nguyễn Văn T8, L, Thạch U1, Đào K1, Dương Văn H1, Đào T7, Đào S1, Đào Thị H2 có nội dung: “Phần đất diện tích cặp lộ 922 đo về hướng kinh Bốn Tổng 30 mét của ông H1; phần đất hướng về kinh Bốn Tổng thuộc quyền sử dụng hợp pháp của các hộ dân nêu trên, ông H1 không được tranh chấp”. Biên bản ngày 01 tháng 6 năm 2005 do Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, Thành phố Cần Thơ về việc hòa giải tranh chấp đất đai giữa ông Lê Minh H và các hộ dân là bà Đào Thị H5, ông Đào K1, ông Nguyễn Văn T9, ông Nguyễn Văn H3, bà Đào Thị P4, bà Đào Thị P1. Kết quả là các hộ dân thỏa thuận ranh và thừa nhận phần đất cặp lộ Bốn Tổng là của ông Lê Minh H. Trong đó, một số hộ trình bày trả lại đất và yêu cầu ông Lê Minh H bồi hoàn hoa lợi, cây trồng và một số hộ thì yêu cầu được chuyển nhượng.
Như vậy, căn cứ theo quy định tại Điều 21 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai về “Căn cứ xác định việc sử dụng đất ổn định” thì đủ cơ sở kết luận ông Lê Minh H là người sử dụng đất ổn định, lâu dài như nhận định của Toà án cấp sơ thẩm là đúng pháp luật.
[2.5] Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cho rằng đất có nguồn gốc của ông bà sử dụng từ trước năm 1980 nhưng không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh. Đồng thời, theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 01 tháng 6 năm 2023 của Toà án cấp sơ thẩm thể hiện phần đất người khởi kiện yêu cầu được giao đất có thu tiền sử dụng đất là không có nhà ở, cây trồng hay vật kiến trúc khác nên lời trình bày của ông Liêu S, bà Võ Thị N, ông Nguyễn Quang T3 cho rằng mình đang sử dụng đất là không đúng thực tế, không có cơ sở chấp nhận.
[2.6] Với các tài liệu chứng cứ nêu trên và đối chiếu các văn bản số 790/STNMT-QHKH của Sở T báo cáo Ủy ban nhân dân Thành phố C xin chủ trương giao đất có thu tiền sử dụng đất cho các hộ gia đình, cá nhân thuộc khu chồng lấn; Công văn số 1166/UBND-KT thống nhất theo đề nghị của Sở T; Công văn số 389/STNMT-CCQLĐĐ ngày 13 tháng 02 năm 2019, Sở T đề nghị Ủy ban nhân dân huyện C tiếp tục thực hiện chủ trương nêu trên thì ông Lê Minh H đủ điều kiện để được UBND hyện Cờ Đỏ giao đất có thu tiền sử dụng đất đối với diện tích đất 750,7m². Toà án cấp sơ thẩm xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Minh H là có căn cứ, đúng pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo của ông Nguyễn Quang T3, Liêu S và bà Võ Thị N, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
[3] Án phí hành chính phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông T3 phải chịu tiền án phí hành chính phúc thẩm theo quy định. Riêng ông Liêu S và bà Võ Thị N là người cao tuổi nên được miễn tiền án phí hành chính phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241, Điều 242 Luật tố tụng hành chính;
Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Quang T3, ông Liêu S và bà Võ Thị N.
Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 50/2023/HC-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ.
Căn cứ Luật khiếu nại năm 2011; Điều 52, 55, 59 của Luật Đất đai 2013;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện ông Lê Minh H.
- Hủy Công văn số 2743/UBND-PTNMT ngày 29 tháng 12 năm 2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Cần Thơ về việc trả lời đơn xin giao đất có thu tiền sử dụng đất của người khởi kiện và Quyết định số 1054/QĐ-UBND ngày 27 tháng 4 năm 2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Cần Thơ về việc giải quyết khiếu nại của ông Lê Minh H (lần đầu); đồng thời, yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Cần Thơ chấp thuận phương án xin giao đất có thu tiền sử dụng đất cho ông Lê Minh H (chủ đất gốc) thuộc khu chồng lấn ấp T, thị trấn C, huyện C, Thành phố Cần Thơ.
- Kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Cần Thơ xét cho người khởi kiện ông Lê Minh H được giao đất có thu tiền sử dụng đất đối với quyền sử dụng đất theo đo đạc hiện trạng là 750,7m² theo Bản trích đo địa chính của Trung tâm K2 thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố C xác lập ngày 24 tháng 8 năm 2023.
- Về án phí hành chính sơ thẩm: Người bị kiện phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.
- Về án phí hành chính phúc thẩm:
- Miễn tiền án phí hành chính phúc thẩm cho ông Liêu S, bà Võ Thị N.
- Ông Nguyễn Quang T3 phải chịu 300.000 đồng. Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí ông T3 đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001947 ngày 09/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Cần Thơ vào phần án phí phải chịu. (Đã nộp xong)
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| - Tòa án nhân dân tối cao; | |
| - VKSND cấp cao tại TP.HCM; | Hoàng Minh Thịnh |
| - TAND Tp. Cần Thơ; | |
| - VKSND Tp. Cần Thơ; | |
| - Cục THADS Tp. Cần Thơ; | |
| - ĐS (4); | |
| - Lưu VP(3), HS(2) 16b.NThuy. |
Bản án số 430/2024/HC-PT ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 430/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Quang T3, ông Liêu S và bà Võ Thị N. Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 50/2023/HC-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ.
