|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH BẾN TRE Bản án số: 43/2024/HNGĐ-ST Ngày: 31-5-2024 V/v ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Trâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Chánh Tâm.
- Ông Nguyễn Trí Chấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Trần Hiền Diệu – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 96/2024/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2024/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Tiêu Thanh T, sinh năm 1985. Địa chỉ: Số D, đường N, phường G, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
Bị đơn: Anh Trần Thanh S, sinh năm 1986. Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Chị Tiêu Thanh T và anh Trần Thanh S có yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình tố tụng tại Tòa án, đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị Tiêu Thanh T trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Trần Thanh S tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn vào ngày 26/11/2012 tại Ủy ban nhân dân phường G, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng có bất đồng về quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Mâu thuẫn kéo dài nhưng anh chị vẫn không khắc phục được nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm năm 2021 cho đến nay. Nay chị xác định vợ chồng không thể nào tiếp tục chung sống với nhau được nữa. Do đó, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh S. Chị không yêu cầu Tòa án xem xét đến việc cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn. Do bận công việc làm ăn nên chị yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt chị trong vụ án này.
Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Tường V, sinh ngày 28/01/2013 và Trần Tường P, sinh ngày 11/02/2020. Hiện 02 con chung đang sống chung với chị. Sau khi ly hôn chị yêu cầu nuôi 02 con chung và anh S không phải cấp dưỡng nuôi 02 con chung.
Về tài sản chung: Chị và anh S không có tài sản chung.
Về nợ chung: Chị và anh S không có nợ chung.
Theo bản tự khai trong quá trình tố tụng tại Tòa án, đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn anh Trần Thanh S trình bày:
Về hôn nhân: Anh thống nhất với trình bày của chị T về thời gian kết hôn. Hiện tại, anh và chị T đã sống ly thân nên vợ chồng không thể nào tiếp tục chung sống với nhau được nữa. Do đó, anh đồng ý theo yêu cầu ly hôn của chị T. Anh không yêu cầu Tòa án xem xét đến việc cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn. Do bận công việc làm ăn nên anh yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt anh trong vụ án này. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh có nhận được thông báo thụ lý vụ án và thông báo hòa giải của Tòa án nhưng do bận công việc làm ăn nên anh không thể đến tham gia phiên hòa giải để trình bày ý kiến.
Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Tường V, sinh ngày 28/01/2013 và Trần Tường P, sinh ngày 11/02/2020. Sau khi ly hôn, anh đồng ý để chị T nuôi 02 con chung và anh không phải cấp dưỡng nuôi 02 con chung.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa sơ thẩm Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký đã tuân thủ theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh S kéo dài đã nhiều năm nhưng anh chị không tự khắc phục được. Việc chị T yêu cầu ly hôn với anh S thì anh S cũng đồng ý nên có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh S đã trầm trọng, hôn nhân có kéo dài cũng không hạnh phúc nên đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Tường V, sinh ngày 28/01/2013 và Trần Tường P, sinh ngày 11/02/2020, hiện đang sống với chị T và chị T yêu cầu được nuôi 02 con chung. Xét thấy, từ khi chị T và anh S ly thân cho đến nay thì chị T là người trực tiếp nuôi các con chung. Đồng thời, anh S cũng đồng ý để chị T được tiếp tục nuôi 02 con chung. Do đó, để đảm bảo không làm xáo trộn cuộc sống hiện nay của con chung nên đề nghị Tòa chấp nhận yêu cầu của chị T, giao 02 con chung cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng; ghi nhận việc chị T không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi 02 con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị T và anh S khai không có nên không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Tòa án ghi nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa chị Tiêu Thanh T và anh Trần Thanh S là tranh chấp về ly hôn, về nuôi con chung theo quy định tại Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Trần Thanh S có nơi cư trú tại xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre theo quy định tại Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Thu Thanh T và bị đơn anh Trần Thanh S là có yêu cầu xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Thu Thanh T và anh Trần Thanh S là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Chị Tiêu Thanh T và anh Trần Thanh S tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường G, thành phố M, tỉnh Tiền Giang vào ngày 26/11/2012 nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp. Chị T xác định nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do cả hai có bất đồng về quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp nhau. Từ năm 2021 đến nay, vợ chồng chị T, anh S đã sống ly thân. Tại biên bản xác minh của Tòa án cũng xác định được chị T, anh S đã ly thân được một thời gian dài. Phía anh S cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị T. Từ đó có cơ sở để xác định, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh S đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu duy trì quan hệ hôn nhân này sẽ ảnh hưởng đến đời sống bình thường của các thành viên trong gia đình nên ly hôn là biện pháp tốt nhất cho cả hai. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T. Ghi nhận chị Tiêu Thanh T và anh Trần Thanh S không yêu cầu về cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn.
[3] Về con chung: Chị T và anh S có 02 con chung tên Trần Tường V, sinh ngày 28/01/2013 và Trần Tường P, sinh ngày 11/02/2020. Chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung. Hội đồng xét xử nhận thấy, từ khi ly thân anh S đến nay chị T là người trực tiếp nuôi 02 con chung. Tại biên bản lấy ý kiến của Tòa án thì cháu Trần Tường V có nguyện vọng được sống cùng chị T. Tại bản tự khai và đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, anh S cũng đồng ý để chị T được nuôi 02 con chung. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung và không làm xáo trộn cuộc sống hiện nay của con, Hội đồng xét xử giao cho chị T được trực tiếp nuôi cháu Trần Tường V, sinh ngày 28/01/2013 và Trần Tường P, sinh ngày 11/02/2020 cho đến khi cháu V và cháu P đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật là phù hợp theo Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Chị T không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi 02 con chung nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Sau khi ly hôn anh S có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh S thực hiện quyền này. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định tại các Điều 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị T và anh S khai tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5] Về án phí: Chị T phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[7] Từ những nhận định nêu trên, xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành là có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84, 115 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho chị Tiêu Thanh T được ly hôn với anh Trần Thanh S. Ghi nhận chị Tiêu Thanh T và anh Trần Thanh S không yêu cầu về cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn.
- Về con chung: Giao 02 con chung tên Trần Tường V, sinh ngày 28/01/2013 và Trần Tường P, sinh ngày 11/02/2020 cho chị Tiêu Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận việc chị T không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi 02 con chung.
Anh Trần Thanh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Chị T và anh S khai tài sản chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết
- Về nợ chung: Chị T và anh S khai nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết
- Về án phí: Chị Tiêu Thanh T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị T đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001993 ngày 06/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành. Chị Tiêu Thanh T đã nộp đủ án phí.
Chị Tiêu Thanh T và anh Trần Thanh S vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Bản án này được thi hành theo qui định tại điều 02 của Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được qui định tại điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Ngọc Trâm |
Bản án số 43/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 43/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu nguyên đơn
