|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 43/2023/HSPT
Ngày 30-10-2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Hiên
Các Thẩm phán: Bà Đinh Thị Như Phượng
Ông Lưu Anh Tuấn
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Nga – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Đinh Ê Ban Mỹ - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 30 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 85/2023/TLPT-HS ngày 10 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Lê Văn L do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 47/2023/HSST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai.
* Bị cáo có kháng cáo: Lê Văn L, sinh ngày 02 tháng 01 năm 1964 tại tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: Tổ dân phố E, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 11/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê H (đã chết) và bà Dương Thị H1 (đã chết); có vợ là Đỗ Thị Thu H2 và 03 người con; tiền án, tiền sự: Không.
Về nhân thân:
- Ngày 10/6/2012, bị Công an phường D, TP . xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy xảy ra ngày 30/5/2012 tại tổ A, phường D, TP ., tỉnh Gia Lai (đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính).
- Ngày 24/5/2014, bị Công an phường H, TP . xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy xảy ra ngày 14/5/2014 tại đường N, phường H, TP ., tỉnh Gia Lai (đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính).
Hiện bị cáo tại ngoại. Có mặt.
Ngoài ra còn có bị cáo Phạm Văn H3 không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 05/6/2023, Phạm Văn H3 điều khiển xe mô tô biển số 81B2 – 513.10 nhãn hiệu Honda Blade màu đỏ đen đi đến nhà của Lê Văn L. Sau khi gặp nhau, Phạm Văn H3 rủ L đi chơi tại huyện M nhưng khi đi đến nơi thì người quen của Phạm Văn H3 không có nhà nên cả hai quay lại về hướng thành phố P. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, trên đường về Phạm Văn H3 đi vào thôn N, thị trấn Đ, tìm bạn tên Cao Văn Q (sinh năm 1988, trú tại thôn B, xã A, huyện Đ, tỉnh Gia Lai) để mượn tiền. Trong khi tìm nhà Q thì cả hai đi ngang qua nhà rẫy của ông Nguyễn Duy H4 (sinh năm 1969, trú tại TDP G, phường T, TP ., tỉnh Gia Lai). Phạm Văn H3 thấy trong nhà ông Nguyễn Duy H4 có một máy cắt cỏ để trước thềm nhà, trong nhà không có người, cửa cổng không khóa thì Phạm Văn H3 nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên rủ L cùng trộm cắp tài sản. Phạm Văn H3 nói với L “Bố cầm cái máy cắt cỏ kia cho con”. L đồng ý nên cùng Phạm Văn H3 đi vào sân nhà rẫy, khi đi gần đến thì L nói “Cái máy này hả”, Phạm Văn H3 trả lời “Đúng” rồi nhanh chóng đi ra xe mô tô để quay đầu xe về hướng thành phố P chuẩn bị tẩu thoát, L bưng máy cắt cỏ và chạy ra ngồi lên xe của H3, cả hai đi xe mô tô về hướng TP .. Khoảng 12 giờ cùng ngày, H3 để L đứng ở ngoài đường rồi một mình mang máy cắt cỏ đến bán tại tiệm thu mua phế liệu của chị Nguyễn Thị Thanh T (sinh năm 1982) thuộc Thôn E, xã T, TP ., tỉnh Gia Lai với số tiền 500.000 đồng. Số tiền có được từ việc trộm cắp tài sản Phạm Văn H3 và Lê Văn L dùng hết vào mục đích tiêu xài cá nhân.
Qua quá trình làm việc xác định 01 máy cắt cỏ nhãn hiệu Robin Yama RBG45 màu đỏ đen gắn lưỡi cắt bằng kim loại là của ông Nguyễn Duy H4 mượn của em trai là ông Nguyễn Duy H5 (sinh năm 1974, trú tại TDP G, phường T, thành phố P, tỉnh Gia) để làm vườn. Khoảng 07 giờ ngày 05/6/2023, ông Nguyễn Duy H4 mang máy cắt cỏ đến nhà rẫy tại thôn N, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai và để máy cắt cỏ trong hiên nhà sau đó đi làm vườn ở phía sau nhà. Đến 12 giờ 30 cùng ngày, ông Nguyễn Duy H4 đi lấy máy cắt cỏ sử dụng thì phát hiện máy cắt cỏ bị mất trộm nên trình báo Cơ quan Công an. Đến ngày 06/6/2023, tại Công an huyện Đ Phạm Văn H3 đã đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình. Quá trình làm việc với Cơ quan điều tra, Phạm Văn H3 đã khai báo, tiến hành nhận dạng người cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là Lê Văn L. Từ ngày 12/6/2023 đến ngày 30/6/2023, Lê Văn L đi cai nghiện tại Trung tâm C thuộc Thôn I, xã H, TP ., tỉnh Đắk Lắk. Ngày 01/7/2023, Lê Văn L đã đến làm việc với Cơ quan điều tra và khai báo hành vi phạm tội của mình.
Khi mua máy cắt cỏ, Phạm Văn H3 nói với chị Nguyễn Thị Thanh T nguồn gốc của máy cắt cỏ là tài sản của H3 nhưng không sử dụng nữa. Sau khi biết máy cắt cỏ là tài sản do trộm cắp mà có, chị T đã giao nộp lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ để xử lý theo quy định.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 62 ngày 09/6/2023 Công an huyện Đ để xử lý theo quy định. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 62 ngày 09/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản thuộc Ủy ban nhân dân huyện Đ kết luận 01 máy cắt cỏ nhãn hiệu RobinYama RBG45 màu đỏ đen, gắn lưỡi cắt bằng kim loại trị giá là 2.500.000 đồng.
Trên cơ sở kết quả điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã ra quyết định xử lý vật chứng trả 01 máy cắt cỏ nhãn hiệu RobinYama RBG45 màu đỏ đen, gắn lưỡi cắt bằng kim loại trên cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Duy H5. Ngoài ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ cũng xác định chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade màu đỏ đen, biển số 81B2-513.10 mà Phạm Văn H3 sử dụng làm phương tiện phạm tội là của bà Trần Thị H6 (mẹ bị cáo Phạm Văn H3). Phạm Văn H3 đã sử dụng chiếc xe này làm phương tiện phạm tội nhưng bà H6 hoàn toàn không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả chiếc xe này cho bà H6.
Về Dân sự: Người bị hại là ông Nguyễn Duy H4 đã tự thỏa thuận bồi thường với bị cáo Lê Văn L, bị cáo Phạm Văn H3 đã tác động bà Trần Thị H6 bồi thường cho bị hại số tiền 200.000 đồng. Hiện ông Nguyễn Duy H4 không có yêu cầu bồi thường gì thêm và bà H6 không yêu cầu bị cáo H4 trả lại số tiền đã bồi thường.
Sau khi đầu thú, Phạm Văn H3 khai báo, Cơ quan điều tra đã thu hồi máy cắt cỏ tại tiệm thu mua phế liệu của chị Nguyễn Thị Thanh T. Tại đây, Phạm Văn H3 đã bồi thường cho chị Nguyễn Thị Thanh T1 số tiền 500.000 đồng, chị T1 không yêu cầu bồi thường gì thêm.
- Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:
Tại bản án hình sơ thẩm số 47/2023/HS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Văn L 10 (Mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh, hình phạt của bị cáo Phạm Văn H3, nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo theo luật định.
- Kháng cáo của bị cáo:
Ngày 18/9/2023, bị cáo Lê Văn L kháng cáo về phần hình phạt, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.
- Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo hưởng án treo của bị cáo, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Lê Văn L từ 7 tháng đến 8 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản".
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ vào lời khai của các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có tại hồ sơ và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm; các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 05/6/2023, tại nhà rẫy của ông Nguyễn Duy H4 (Tổ dân phố G, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai), lợi dụng trong lúc nhà không có người, Phạm Văn H3 và Lê Văn L đã trộm một máy cắt cỏ của ông Nguyễn Duy H4. Giá trị tài sản bị trộm cắp qua định giá là 2.500.000 đồng.
Do đó, Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[2] Đối với kháng cáo của bị cáo:
Xét thấy khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi; tự nguyện bồi thường để khắc phục hậu quả, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, bị cáo có giấy khen về thành tích xuất sắc trong công tác phòng chống tội phạm và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được quy định tại các điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo 10 tháng tù.
Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này cho bị cáo.
Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo đã giao nộp các tài liệu, chứng cứ mới bao gồm bị hại tiếp tục có đơn xin giảm nhẹ hình và cho bị cáo được hưởng án treo; Đơn xác nhận của chính quyền địa phương về việc gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, thường xuyên đau bệnh; bị cáo có chú là Liệt sĩ, anh trai của bị cáo được tặng Bằng khen, Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng ba và bị cáo đã hoàn thành xong nghĩa vụ đóng án phí mà bản án sơ thẩm đã tuyên. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét thấy, bị cáo 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào năm 2012, 2014 đã chấp hành và tính đến ngày phạm tội lần này đã quá thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, bị cáo đã tự nguyện đi cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện ma túy tự nguyện, cho thấy bị cáo có thái độ ăn năn và sửa chữa bản thân. Trước khi thực hiện hành vi phạm tội lần này bị cáo không phạm tội gì khác, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, ổn định. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần cho bị cáo cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo. Do đó, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.
[3] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 47/2023/HS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Văn L 8 (T2) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 16 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm, ngày 30/10/2023.
Giao bị cáo Lê Văn L cho UBND phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 2 (hai) lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án này. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của này và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015.
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án:
Bị cáo Lê Văn L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Gia Lai; - Sở tư pháp tỉnh Gia Lai; - CQCSĐT huyện Đak Đoa; - VKSND huyện Đak Đoa; - TAND huyện Đak Đoa(2); - Chi cục THADS huyện Đak Đoa; - Bị cáo; - Lưu VT, THS, HSVA. |
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - chủ tọa phiên toà Đỗ Văn Hiên |
Bản án số 43/2023/HSPT ngày 30/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về trộm cắp tài sản (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 43/2023/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo
