Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

———————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

———————

Bản án số: 43/2024/HNGĐ-ST

Ngày 30-7-2024

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Khắc Tân

Bà Nguyễn Thị Bích Lý

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân quận Lê Chân.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên tòa: Ông Khắc Thành Sơn – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 52/2024/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 582/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 653/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Anh Đàm Văn C; nơi cư trú: Số C Đại học D, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; có mặt.
  • - Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Hằng N; nơi cư trú: Số C Đại học D, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn anh Đàm Văn C trình bày:

Anh và chị Nguyễn Thị Hằng N xây dựng gia đình với nhau từ năm 2011 trên cơ sở tự nguyện, tự tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường D, quận L, thành phố Hải Phòng vào ngày 01/4/2011. Đến nay vợ chồng có một con chung.

Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ lâu do tính cách, quan điểm sống và cách sống giữa vợ chồng không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Gia đình hai bên đã hoà giải nhiều lần nhưng không có kết quả, cuộc sống vợ chồng ngày một căng thẳng, nặng nề. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2018 đến nay không còn quan tâm đến cuộc sống riêng của nhau nữa. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã căng thẳng trầm trọng, anh Đàm Văn C đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị Hằng N.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Đàm Văn Bá V, sinh ngày 14/02/2012. Anh C xin được trực tiếp nuôi con đến khi con thành niên đủ 18 tuổi. Việc cấp dưỡng nuôi con anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác cho chị N, chị N đã nhận được nhưng không đến Tòa án làm việc và không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của anh C, không cung cấp chứng cứ, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ.

Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ với đại diện chính quyền địa phương nơi anh C chị N chung sống và đại diện gia đình chị N được biết: Quá trình chung sống vợ chồng anh C chị N có xảy ra mâu thuẫn, hiện tại vợ chồng sống ly thân nhau. Nay anh C xin ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Về con chung: Vợ chồng anh chị có một con chung là Đàm Văn Bá V, sinh ngày 14/02/2012 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Kiểm sát viên tham gia phát biểu ý kiến tại phiên tòa: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử thấy rằng, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: Anh C và chị N kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn vì vậy là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, đã sống ly thân 4 năm nay, không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho Đàm Văn C được ly hôn chị Nguyễn Thị Hằng N; về con chung: Đề nghị giao con chung là Đàm Văn Bá V, sinh ngày 14/02/2012 cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con anh C không yêu cầu nên đề nghị HĐXX không xem xét; về tài sản chung anh C không yêu cầu nên đề nghị HĐXX không xem xét; về án phí: Anh C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

[1] Đây là vụ án tranh chấp ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn là chị Nguyễn Thị Hằng N hiện đang cư trú tại số C Đại học D, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

[2] Bị đơn chị Nguyễn Thị Hằng N vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất và đã được tống đạt hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn không có mặt, do vậy HĐXX căn cứ vào quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị Nguyễn Thị Hằng N.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Anh Đàm Văn C và chị Nguyễn Thị Hằng N kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường D, quận L, thành phố Hải Phòng vào ngày 01/4/2011, đã tuân thủ đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp.

[4] Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính cách và quan điểm sống giữa hai vợ chồng không phù hợp. Đỉnh điểm đến năm 2018 vợ chồng sống ly thân nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ chị Nguyễn Thị Hằng N đến Tòa án làm việc nhiều lần nhưng chị N đều không đến và không có ý kiến trình bày về quan điểm của mình, qua đó cho thấy chị N cũng không muốn hàn gắn tình cảm với anh C. Đồng thời qua các tài liệu xác minh thu thập chứng cứ đã xác nhận cuộc sống chung giữa anh C và chị N thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, hiện tại đã sống ly thân nhau. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm vợ chồng giữa anh C và chị N trên thực tế đã không còn, mâu thuẫn thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc anh C yêu cầu được ly hôn chị N là phù hợp, cần được chấp nhận theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[5] Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Đàm Văn Bá V, sinh ngày 14/02/2012. Ly hôn, anh C có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi con chung đến khi con thành niên đủ 18 tuổi. Mặt khác, chị N không có ý kiến gì thể hiện quan điểm về việc nuôi con gửi cho Tòa án. Vì vậy việc anh C có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế, phù hợp với quy định tại các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.

[6] Về cấp dưỡng nuôi con: Anh C không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về tài sản chung: Anh C không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí:

[8] Anh Đàm Văn C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Đàm Văn C và chị Nguyễn Thị Hằng N.
  2. Về nuôi con chung: Giao con chung là Đàm Văn Bá V, sinh ngày 14/02/2012 cho anh Đàm Văn C trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về án phí: Anh Đàm Văn C phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước. Số tiền này anh C đã nộp đủ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005826 ngày 16 tháng 4 năm 2024.
  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7A và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - UBND p. Dư Hàng Kênh, q. Lê Chân, tp. Hải Phòng (GCNKH ngày 01/4/20211);
  • - Lưu: VT, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HNGĐ-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 43/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger