|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 43/2023/HNGĐ- ST Ngày 22/12/2023 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Cao Thị Lan Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Thanh Thuỷ;
- Bà Nguyễn Thị Hiền.
- Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Thu Hà - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Phạm Thu Huyền - kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 12 năm 2023, tại Hội trường xét xử - Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án dân sự thụ lý số: 96/2023/TLST–HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/11/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Kim D thường trú: tổ D, khu D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh vắng mặt, có đơn xin xử án vắng mặt.
Bị đơn: anh Lê Xuân T thường trú: tổ D, khu D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; hiện đang thi hành án tại đội 10, phân trại số 02, Trại giam T3; địa chỉ: xã T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vắng mặt, có đơn xin xử án vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và lời khai tại hồ sơ nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim D1 trình bày: chị và anh Lê Xuân T1 chung sống với nhau từ năm 2001 nhưng đến năm 2005 mới đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn chị và anh Thủy c sống tại tổ D, khu D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Vợ chồng sống không hạnh phúc chính vì thế chị không muốn đăng ký kết hôn ngay. Chị và anh T1 không hợp nhau, thường xuyên cãi vã. Đến tháng 10 năm 2017 anh T1 phạm tội và bị xử phạt 16 năm 06 tháng; cho đến nay, anh T1 đã thi hành án tại trại giam T3, tỉnh Thanh Hóa được 06 năm. Chị không còn tình cảm với anh T1 nữa, duy trì hôn nhân không đảm bảo hạnh phúc, chị kiên quyết xin ly hôn với anh T1.
Về con chung: chị và anh T1 có có 02 con chung là Lê Nguyễn Hà V; sinh ngày 30/8/2001 và Lê Nguyễn Anh T2; sinh ngày 10/01/2012. Khi ly hôn chị xin nuôi dưỡng con Lê Nguyễn Anh T2, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con vì anh T1 đang chấp hành án, còn cháu Lê Nguyễn Hà V đã trưởng thành, có gia đình nên chị không yêu cầu toà án giải quyết.
Về tài sản chung và vay, nợ chung: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Lê Xuân T1 có đơn xin xử án vắng mặt và có bản tự khai tại hồ sơ như sau: anh và chị D1 kết hôn năm 2005 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn chị và anh Thủy c sống tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Thời gian đầu vợ chồng sống bình thường, được một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm nên thường xuyên xảy ra cãi vã. Năm 2017, anh phạm tội và bị xử phạt 16 năm 06 tháng, hiện anh đang thi hành án tại trại giam T3, tỉnh Thanh Hóa, vợ chồng xa cách nên mâu thuẫn cầng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh đồng ý với ý kiến xin ly hôn của chị D1 và xin xử án vắng mặt.
Về con chung: anh và chị D1 có 02 con chung là Lê Nguyễn Hà V; sinh ngày 30/8/2001 và Lê Nguyễn Anh T2; sinh ngày 10/01/2012. Khi ly hôn, cháu V đã trưởng thành, anh đồng ý giao con Lê Nguyễn Anh T2 cho chị D1 nuôi dưỡng.
Về tài sản chung và vay nợ chung: anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn, thụ lý vụ án đúng trình tự, thẩm quyền. Xác định đúng quan hệ tranh chấp và tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ đảm bảo. Trình tự thụ lý, thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc giao các thông báo, quyết định cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng và quá trình xét xử đảm bảo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
- Đề nghị: chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim D1.
- Về con chung: giao cho chị D1 được nuôi dưỡng con chung Lê Nguyễn Anh T2; sinh ngày 10/01/2012, anh T1 không phải cấp dưỡng cho con, con chung Lê Nguyễn Hà V đã trưởng thành nên không đề cập.
- Về tài sản chung và vay, nợ chung: không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: đương sự tranh chấp về Hôn nhân và gia đình có nơi cư trú tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đang cải tạo tại trại giam có đơn xin xử án vắng mặt, nguyên đơn có đơn xin xử án vắng mặt do đó theo quy định tại khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vụ án.
[2] Về nội dung: hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Kim D1 và anh Lê Xuân T1 là hôn nhân hợp pháp.
Về tình cảm: mâu thuẫn giữa chị D1 và anh T1 kéo dài, vợ chồng bất đồng quan điểm và thường xuyên cãi vã. Anh T1 phạm tội bị xử phạt 16 năm 06 tháng, hiện đang thi hành án tại trại giam T3 từ năm 2017 do đó duy trì hôn nhân không đảm bảo hạnh phúc cho cả hai, mục đích hôn nhân không đạt được. Cả hai cùng đồng ý ly hôn do đó chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim D1 như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tại phiên tòa.
Về con chung: chị D1 và anh T1 có 02 con chung, trong đó con chung Lê Nguyễn Hà V đã thành niên, có gia đình nên không đề cập giải quyết. chị D1 có nguyện vọng xin nuôi dưỡng cháu Lê Nguyễn Anh T2. Hiện anh T1 đang thi hành án có quan điểm đồng ý để chị D1 nuôi con chung cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu T2 cũng như điều kiện thực tế do đó chấp nhận yêu cầu xin nuôi con của chị D1.
Về tài sản chung và vay nợ chung: các đương sự không yêu cầu toà án giải quyết.
[3] Về án phí: chị D1 phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
[4] Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử: chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim D1.
Chị Nguyễn Thị Kim D1 được ly hôn với anh Lê Xuân T1.
Về con chung: giao cho chị Nguyễn Thị Kim D1 được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Lê Nguyễn Anh T2; sinh ngày 10/01/2012, anh T1 không phải cấp dưỡng cho con và có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về án phí: chị Nguyễn Thị Kim D1 phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị D1 đã nộp tại biên lai thu tiền số 0002030 ngày 24/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả. Chị D1 đã nộp đủ án phí ly hôn.
Chị Nguyễn Thị Kim D1 và anh Lê Xuân T1 vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Thị Lan Anh |
Bản án số 43/2023/HNGĐ- ST ngày 22/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 43/2023/HNGĐ- ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị D xin ly hôn anh Th
