TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 43/2024/HNGĐ- ST
Ngày: 29 tháng 7 năm 2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Hà
- Bà Trương Thị Hồng Xuân
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thắm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Hiên - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 43/2024/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 27/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 35/2024/QĐST- HNGĐ ngày 19/7/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trương Thị T - Sinh năm: 1992
Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện T, Thanh Hóa.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C - Sinh năm: 1994
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên toà có mặt chị T, vắng mặt anh C (Anh C vắng mặt lần thứ hai không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 29/02/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Trương Thị T trình bày: Chị T và anh Nguyễn Văn C được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục của địa phương, kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 26/9/2016 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi chung sống hòa thuận được khoảng 02 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là vợ chồng có nhiều vấn đề không cùng quan điểm nên thường xuyên cãi vã. Hai bên không có chung quan điểm sống. Thời gian mâu thuẫn kéo dài khiến cuộc sống hôn nhân của hai vợ chồng vô cùng mệt mỏi. Chị và anh C đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay không ai quan tâm đến ai nữa. Đến nay, chị T xác định tình cảm vợ, chồng không còn hạnh phúc đã thực sự tan vỡ nên chị T yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh C.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thanh T1, (Giới tính: Nữ), sinh ngày: 19/5/2016 và cháu Nguyễn Bảo T2, (Giới tính: Nữ), sinh ngày: 11/9/2018. Sau khi ly hôn, chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1, giao cháu T2 cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 14/6/2024 anh Nguyễn Văn C trình bày:
- Về hôn nhân: Anh và chị Trương Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 26/9/206. Vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do trong cuộc sống vợ chồng bất đồng nhiều quan điểm và không có tiếng nói chung. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nay chị T làm đơn ly hôn anh tại Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, anh C đồng ý ly hôn với chị T.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thanh T1, (Giới tính: Nữ), sinh ngày: 19/5/2016 và cháu Nguyễn Bảo T2, (Giới tính: Nữ), sinh ngày: 11/9/2018. Ly hôn, anh C có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.
- Về tài sản: Anh C không yêu cầu Toà án giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX), Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS); nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: Xử cho chị Trương Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn C. Giao cháu Nguyễn Thanh T1, (Giới tính: Nữ), sinh ngày: 19/5/2016 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Nguyễn Bảo T2, (Giới tính: Nữ), sinh ngày: 11/9/2018 cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Trương Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về ly hôn đối với anh Nguyễn Văn C. Anh C có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Nên xác định đây là vụ án ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự, nhưng anh C vắng mặt không có lí do, tòa án đã tiến hành mở phiên họp vắng mặt anh C và thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ cho anh C theo khoản 3 Điều 210 BLTTDS. Anh C đã được triệu tập hợp lệ đến phiên hoà giải nhiều lần nhưng anh C đều không đến để tham gia hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 điều 207 BLTTDS.
Anh C cũng đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tòa án xét xử vắng anh C.
[2] Về hôn nhân: Chị Trương Thị T và anh Nguyễn Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 26/9/2016 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa và không vi phạm các điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, bất hoà kéo dài. Trong quá trình giải quyết vụ án tại các buổi hòa giải anh C không đến Tòa án để tham gia hòa giải mà không có lý do. Từ khi chị T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn đối với anh C, anh C cũng không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Chị T và anh C sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Điều này chứng tỏ tình cảm vợ chồng giữa chị T và anh C không còn, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh C là có cơ sở, nên yêu cầu của chị T được chấp nhận.
[3] Về con chung: Chị Trương Thị T và anh Nguyễn Văn C có 02 con chung là cháu Nguyễn Thanh T1, (Giới tính: Nữ), sinh ngày: 19/5/2016 và cháu Nguyễn Bảo T2, (Giới tính: Nữ), sinh ngày: 11/9/2018. Khi ly hôn chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1, giao cháu T2 cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng. Tại bản tự khai anh C có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con. Hội đồng xét xử thấy: Nuôi con là quyền và nghĩa vụ của cả bố và mẹ. Chị T và anh C đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con, đây là nguyện vọng chính đáng của chị T và anh C. Do đó giao mỗi người trực tiếp nuôi dưỡng một cháu là phù hợp. Cháu Nguyễn Thanh T1 có nguyện vọng được ở với mẹ. Vì vậy, giao cháu T1 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu T2 cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau là phù hợp.
[4] Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, khoản 2 điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Về hôn nhân: Xử cho chị Trương Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn C.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thanh T1, (Giới tính: Nữ), sinh ngày: 19/5/2016 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Nguyễn Bảo T2, (Giới tính: Nữ), sinh ngày: 11/9/2018 cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Chị T và anh C có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cấm, cản trở.
Trường hợp có căn cứ để thay đổi người trược tiếp nuôi con sau khi ly hôn thì thực hiện theo quy định tại điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về án phí: Chị Trương Thị T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền chị T đã nộp tạm ứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành, theo biên lai số 0002289 ngày 15/4/2024. Chị T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt chị T, vắng mặt anh Nguyễn Văn C. Chị T có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh C có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Tuấn |
Bản án số 43/2024/HNGĐ- ST ngày 29/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 43/2024/HNGĐ- ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Trương Thị T khởi kiện ly hôn tranh chấp nuôi con với anh Nguyễn Văn C
