|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 43/2024/HNGĐ-ST Ngày 29/7/2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Thành Đô
2. Ông Chu Quốc Đạt
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Anh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 88/2024/TLST- HNGĐ ngày 29/3/2024 về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/6/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 80/QĐST-HNGĐ ngày 11/7/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Chị Ngô Thị Cúc, sinh năm 1980 (xin vắng mặt);
Địa chỉ: Thôn Dầu, xã Đại Lâm, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Bị đơn: Anh Ngô Văn Trọng, sinh năm 1976 (vắng mặt);
Địa chỉ: Thôn Dầu, xã Đại Lâm, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Ngô Thị Cúc trình bày:
Chị và anh Ngô Văn Trọng đăng ký kết hôn với nhau ngày 27/02/1999 tại Uỷ ban nhân dân xã Đại Lâm, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn hai người được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, không bị ép buộc. Thời gian đầu chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc, đến khoảng năm 2002 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, sinh hoạt gia đình, làm ăn kinh tế, dẫn đến vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã mắng chửi nhau, anh Trọng thường xuyên gây sự vô cớ đánh đập chị. Khoảng 3 năm gần đây do anh Trọng làm ăn kinh tế thua lỗ dẫn đến nợ nần phải bán hết tài sản nên vợ chồng mâu thuẫn càng trầm trọng. Đến nay chị và anh Trọng đã sống ly thân, chị đã về nhà mẹ đẻ sinh sống, chấm dứt mọi quan hệ về mặt tình cảm cũng như kinh tế, việc của ai người đó làm, không quan tâm gì đến nhau. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Trọng.
Về con chung: Chị và anh Trọng có 03 con chung là Ngô Thị Thúy Hoa, sinh ngày 08/01/1999; Ngô Chí Thanh, sinh ngày 21/11/2005 và Ngô Chí Long, sinh ngày 23/9/2012. Hiện cháu Hoa, cháu Thanh đã trưởng thành, cháu Long đang ở với chị phát triển bình thường. Nay ly hôn chị yêu cầu được tiếp nuôi cháu Ngô Chí Long và chị không yêu cầu anh Trọng cấp dưỡng nuôi con. Chị đang làm công nhân xưởng gỗ ở xã Đại Lâm gần nhà, thu nhập trung bình hàng tháng là 9.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Về tài sản, công nợ, ruộng canh tác: Anh chị không vướng mắc nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Ngô Văn Trọng đã được Tòa án giao thông báo thụ lý vụ án; giấy triệu tập; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ. Nhưng anh Trọng không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại biên bản ghi lời khai ông Ngô Văn Dung là bố đẻ anh Ngô Văn Trọng, được biết như sau: Anh Ngô Văn Trọng kết hôn với chị Ngô Thị Cúc vào ngày 27/02/1999, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đại Lâm, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn chị Cúc và anh Trọng được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, không bị ép buộc. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc sau phát sinh mâu thuẫn, đến khoảng đầu năm 2024 thì mâu thuẫn càng trầm trọng hơn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh Trọng đánh chị Cúc, do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, làm ăn, kinh tế. Gia đình đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Tháng 5/2024 chị Cúc về nhà mẹ đẻ sinh sống.
Về con chung: anh Trọng và chị Cúc có 03 con chung là Ngô Thị Thúy Hoa, sinh ngày 08/01/1999; Ngô Chí Thanh, sinh ngày 21/11/2005 và Ngô Chí Long, sinh ngày 23/9/2012. Hiện cháu Hoa, cháu Thanh đã trưởng thành, cháu Long phát triển bình thường.
Tại biên bản ghi lời khai của cháu Ngô Chí Long, cháu Long trình bày:
Cháu là con chung của chị Ngô Thị Cúc và anh Ngô Văn Trọng. Hiện cháu vẫn khỏe mạnh, phát triển bình thường. Trường hợp bố mẹ ly hôn thì cháu có nguyện vọng được ở cùng mẹ. Ngoài ra cháu không còn ý kiến nào khác.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Trọng đều vắng mặt nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn là chị Ngô Thị Cúc vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn là anh Ngô Văn Trọng vắng mặt lần thứ hai không lý do.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đều chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp tiền án phí, lệ phí Tòa án.
Đề nghị xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị Cúc được ly hôn anh Ngô Văn Trọng
Về con chung: Giao cho chị Ngô Thị Cúc trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Ngô Chí Long, sinh ngày 23/9/2012. Về cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Cúc phải chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Đơn khởi kiện của nguyên đơn cùng các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp là hoàn toàn hợp lệ, đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về hình thức và nội dung đơn khởi kiện.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung, bị đơn có nơi cư trú tại xã Đại Lâm huyện Lạng Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục tố tụng dân sự pháp luật đã quy định. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
[4] Về nội dung
[4.1] Về quan hệ hôn nhân
Căn cứ lời khai của các đương sự cùng tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xác định: chị Ngô Thị Cúc và anh Ngô Văn Trọng kết hôn ngày 07/3/2023 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đại Lâm, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Vợ chồng kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, phù hợp với quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Do đó quan hệ hôn nhân giữa chị Cúc, anh Trọng là hợp pháp.
Quá trình vợ chồng chung sống đến khoảng năm 2002 thì chị Cúc anh Trọng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, sinh hoạt gia đình, làm ăn kinh tế, dẫn đến vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã mắng chửi nhau, anh Trọng thường xuyên gây sự vô cớ đánh đập vợ. Khoảng 3 năm gần đây do anh Trọng làm ăn kinh tế thua lỗ dẫn đến nợ nần phải bán hết tài sản nên mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng hơn. Đến nay hai người đã sống ly thân, chị Cúc đã về nhà mẹ đẻ sinh sống, chấm dứt mọi quan hệ về mặt tình cảm cũng như kinh tế, việc của ai người đó làm, không quan tâm gì đến nhau. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị Cúc đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Trọng. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa chị Cúc và anh Trọng đã kéo dài nhiều năm căng thẳng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần giải quyết cho chị Cúc được ly hôn anh Trọng, xét như vậy là phù hợp với Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[4.2] Về con chung: Vợ chồng chị Cúc, anh Trọng có 03 con chung là Ngô Thị Thúy Hoa, sinh ngày 08/01/1999; Ngô Chí Thanh, sinh ngày 21/11/2005 và Ngô Chí Long, sinh ngày 23/9/2012. Hiện cháu Hoa, cháu Thanh đã trưởng thành nên không đặt ra xem xét giải quyết. Ly hôn chị Cúc có yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Ngô Chí Long, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của chị Cúc là chính đáng phù hợp với nguyện vọng của con chung, phù hợp với quy định của pháp luật. Bản thân cháu Long hiện đang ở cùng chị Cúc phát triển bình thường về thể chất và trí tuệ do đó cần giao cho chị Cúc được trực tiếp nuôi con chung là phù hợp với quy định của pháp luật, là phù hợp với Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con chung do chị Cúc đang làm công nhân xưởng gỗ ở xã Đại Lâm, thu nhập trung bình hàng tháng là 9.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Chị xác định vẫn đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung không yêu cầu anh Trọng đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn anh Trọng có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở anh Trọng thực hiện quyền này.
[4.3] Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp tiền án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị Cúc được ly hôn anh Ngô Văn Trọng.
- Về con chung: Giao cho chị Ngô Thị Cúc trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Ngô Chí Long, sinh ngày 23/9/2012. Sau khi ly hôn anh Ngô Văn Trọng có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở anh Trọng thực hiện quyền, nghĩa vụ này.
- Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Ngô Thị Cúc phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị Cúc đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007413 ngày 29/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Cúc đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Về cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hương |
Bản án số 43/2024/HNGĐ-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 43/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Cúc- Anh Trọng
