Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KHOÁI CHÂU

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2024/HS-ST

Ngày 29 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Cường.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Oanh và Ông Lê Quang Thế.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2024/TLST-HS ngày 06/5/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐXXST- HS ngày 15/5/2024, đối với:

- Bị cáo: Nguyễn Hữu H, sinh năm 1969.

Nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hóa: 7/10. Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Con ông: Nguyễn Hữu C và con bà: Nguyễn Thị C1 (đều đã chết);

A, chị, em: Có 07 người. Bị cáo là con thứ bảy;

Vợ: Văn Thị L.

Con: Có 02 con, lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 1994.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 17/3/2022, BỊ UBND xã T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Hủy hoại tài sản.

Nhân thân:

- Ngày 24/6/1995, Tòa án nhân dân huyện Gia Giang, tỉnh Hải Hưng xử 06 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích.

- Ngày 14/8/2006, Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên xử 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

- Ngày 13/8/2008, Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên xử 02 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

- Ngày 12/8/2011, Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử 40 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 12/01/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H (Có mặt).

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

- Bà Văn Thị L, sinh năm 1970.

Nơi cư trú: thôn M, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

(Có mặt)

+ Người làm chứng:

- Ông Trần Đình L1, SN 1973.

Nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

- Anh Lưu Ngọc T, SN 1985.

Hiện trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

- Anh Đặng Nhân M, SN 1987.

Hiện trú tại: Thôn P, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

- Ông Nguyễn Hữu L2, SN 1973.

Hiện trú tại: Thôn P, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

- Ông Trần Đình H1, SN 1973.

Hiện trú tại: Thôn M, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

- Chị Lê Thị Mai H2, SN 1989.

Hiện trú tại: Thôn M, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

- Anh Vũ Văn C2, SN 1985.

Hiện trú tại: Thôn M, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

- Chị Đặng Thị P, SN 1989.

Hiện trú tại: Thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

- Ông Nguyễn Văn B, SN 1971.

Hiện trú tại: Thôn P, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

- Chị Vũ Thị Thanh H3, SN 1988.

Hiện trú tại: Thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

- Anh Đặng Mạnh L3, SN 1988.

Hiện trú tại: Phố P, thị trấn K, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

- Ông Nguyễn Văn K, SN 1970.

Hiện trú tại: Thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

(Đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 20 phút, ngày 12 tháng 01 năm 2024, Nguyễn Hữu H trong tình trạng say rượu đến Ủy ban nhân dân xã T chửi bới lung tung dọc hành lang tầng 01 trong khoảng từ 05 đến 10 phút. Tại cửa phòng một cửa tầng 01 của UBND xã T, H cầm chiếc điếu cày bằng tre dài khoảng 60 cm, đường kính ống 05cm để trước cửa phòng của anh Đặng Nhân M (là Phó bí thư Đoàn xã T) ném ra phía trước cửa phòng Công an xã T. Lúc này các cán bộ đang trực và những người dân đến liên hệ giải quyết thủ tục hành chính thấy Hiên thì sợ hãi phải đóng cửa và dừng mọi hoạt động. Hiên vẫn đi lại dọc hành lang tầng 01 và chửi bới khoảng 10 phút thì lên tầng hai, đi vào phòng khách của Ủy ban nhân dân xã T. Lúc này trong phòng đang diễn ra cuộc họp về công tác truyền thanh, thành phần gồm: Ông Nguyễn Hữu L2 – Chủ tịch UBND xã T (chủ tọa); ông Trần Đình H1 – Phó chủ tịch UBND xã T; ông Nguyễn Văn C3 – Phó Chủ tịch UBND xã T (thư ký cuộc họp); bà Đặng Thị P – Bí thư Đoàn thanh niên xã T; ông Đặng Nhân M – Phó bí thư Đoàn xã T. Hiên mở cửa vào phòng hỏi xin cau và có lời nói đe dọa, xúc phạm những người có mặt. Lúc này, ông Nguyễn Hữu L2 đã mời H1 ra ngoài nhưng H1 không ra và nói: “Chúng mày ở đây làm gì, chúng mày đều là chó, nếu cần, chúng mày gọi tất cả lên đây”, đồng thời có lời lẽ chửi bới và đe dọa làm cuộc họp bị gián đoạn khoảng 10 phút. Đồng chí Lưu Ngọc T là cán bộ Công an xã T lên phòng họp để can thiệp, giải thích và mời H1 ra ngoài để cuộc họp tiếp tục nhưng H1 không ra mà vẫn tiếp tục chửi bới. Lúc này, đồng chí Đàm Văn K1 cán bộ Công an xã T cũng lên phòng họp cùng đồng chí T mời H1 đi ra ngoài để cuộc họp tiếp tục nhưng H1 vẫn chửi bới đồng chí L2, đồng chí Hiên. Ngay sau đó, đồng chí K1, đồng chí T và mọi người đã khống chế đưa H1 ra ngoài.

Cùng ngày, UBND xã T và Công an xã T báo cáo Công an huyện K về sự việc. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ đoạn video ghi lại hình ảnh liên quan đến vụ gây rối trật tự công cộng tại UBND xã T, thu giữ chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen biển kiểm soát 89E1-732.62 của Nguyễn Hữu H; anh Đặng Nhân M giao nộp Cơ quan điều tra 01 chiếc điếu cày bằng tre, dạng ống trụ tròn dài 63cm, đường kính ống 4,5cm, màu nâu đen đã qua sử dụng.

Ngày 12/01/2024, Cơ quan điều tra kiểm tra nồng độ cồn đối với Nguyễn Hữu H, kết quả nồng độ cồn của H là 0,217mg/l.

Cơ quan điều tra đã ra quyết định trưng cầu giám định, Phòng K2 Công an tỉnh H giám định hình ảnh, video đối với file video thu giữ tại UBND xã T xác định có bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hay không, đồng thời tiến hành cho H nhận diện người gây rối tại UBND xã T. Bản kết luận giám định số 123/KL-KTHS(KTS) ngày 15/02/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh H kết luận: không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong file video gửi giám định. Kết quả Hiên xác định đúng hình ảnh người có hành vi gây rối trong video chính là H.

Vật chứng vụ án:

  • - Đối với chiếc điếu cày, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Đặng Nhân M, ngày 14/01/2024 Cơ quan điều tra đã tiến hành trao trả, anh M đã nhận lại và không có yêu cầu đề nghị gì.
  • - Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen, biển kiểm soát 89E1-732.62, quá trình điều tra xác định là tài sản của vợ chồng H nên Cơ quan Điều tra nhập kho vật chứng chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số: 51/CT-VKSKC ngày 03/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Nguyễn Hữu H về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Hữu H về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 318, Điều 38; 46, 47; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Xử phạt Nguyễn Hữu H từ 02 năm 06 tháng tù đến 02 năm 09 tháng tù.

- Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen, biển kiểm soát 89E1-732.62 là tài sản chung của vợ chồng bị cáo H, là phương tiện phục vụ cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày, bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội, khi bị cáo đi xe máy bà L không biết. Đề nghị HĐXX trả lại cho vợ chồng bị cáo H, đại diện người nhận lại là vợ bị cáo, bà Văn Thị L.

Bị cáo H thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội. Đề nghị được trả lại chiếc xe cho vợ chồng bị cáo và ủy quyền cho vợ bị cáo nhận lại chiếc xe.

Bà Văn Thị L trình bày: Chiếc xe máy là tài sản chung của vợ chồng tôi, ông H lấy đi tôi không biết, chiếc xe máy là phương tiện đi lại, sinh hoạt hàng ngày của gia đình, đề nghị HĐXX trả cho vợ chồng bà xin lại chiếc xe máy và nhận sự ủy quyền của ông H tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, việc giao nộp và thu thập tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hữu H thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án như: Bản kết luận giám định số 123/KL-KTHS (KTS) ngày 15/02/2024, lời khai của những người làm chứng, vật chứng thu giữ; file video thu giữ tại UBND xã T; Biên bản nhận dạng... Đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 12/01/2024, tại Ủy ban nhân dân xã T, Nguyễn Hữu H đã có hành vi chửi bới, hò hét, dùng điếu cày ném gây rối trật tự công công làm gián đoạn, ngưng trệ hoạt động bình thường của các phòng, ban thuộc Ủy ban nhân dân xã T. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu truy tố bị cáo Nguyễn Hữu H là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh, gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động bình thường của mọi người ở nơi công cộng, gây náo loạn và bức xúc trong quần chúng Nhân dân làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, chính trị tại địa phương nên đòi hỏi phải đưa ra xử lý bằng pháp luật hình sự với mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình nhưng đã sử dụng rượu bia và thực hiện hành vi phạm tội tại cơ quan công quyền của Nhà nước, ảnh hưởng đến sự tôn nghiêm, hoạt động bình thường của cơ quan Nhà nước. Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng đối với bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội nhằm răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời cũng nhằm phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo: Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tiền sự: Ngày 17/3/2022, bị Công an huyện K ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Hủy hoại tài sản.

Nhân thân:

  • - Ngày 24/6/1995, Tòa án nhân dân huyện Gia Giang, tỉnh Hải Hưng xử 06 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích;
  • - Ngày 14/8/2006, Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên xử 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản;
  • - Ngày 13/8/2008, Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên xử 02 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản;
  • - Ngày 12/8/2011, Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử 40 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

[4] Về vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen, biển kiểm soát 89E1-732.62 là tài sản chung của vợ chồng bị cáo H, là phương tiện phục vụ cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày, bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội, khi bị cáo đi xe máy bà L không biết. Trả lại cho vợ chồng bị cáo H, đại diện người nhận lại là bà Văn Thị L.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 318; Điều 38; 46; 47; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Điều 106; 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.

Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố:
  2. Bị cáo Nguyễn Hữu H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

  3. Xử phạt:
  4. Bị cáo Nguyễn Hữu H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù từ ngày tạm giữ, tạm giam 12/01/2024.

  5. Về vật chứng: Trả lại vợ chồng bị cáo H 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen, biển kiểm soát 89E1-732.62, đại diện người nhận lại là bà Văn Thị L.
  6. (Số lượng, chủng loại, đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Quyết định chuyển vật chứng số 37/QĐ-VKS-KC ngày 03/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu).

  7. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hữu H phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  8. Quyền kháng cáo: Bị cáo H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hưng Yên;
  • - VKSND huyện Khoái Châu;
  • - Công an huyện Khoái Châu;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Chi cục THADS huyện Khoái Châu;
  • - UBND xã Tứ Dân;
  • - Bị cáo;
  • - Người liên quan;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Việt Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN về hình sự sơ thẩm về tội gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 43/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger