|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 43/2024/HS-ST Ngày: 28-6-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Huế.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bồ Quốc Khánh;
- Ông Đoàn Văn Lước.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Mỹ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thu Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 56/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Triệu Minh S, sinh năm 1997, tại Bình Dương; địa chỉ thường trú: Tổ E, ấp B, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước; địa chỉ tạm trú: Vinhomes G, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Minh P, sinh năm 1969 và bà Trần Thị N, sinh năm 1969, bị cáo có 01 người em ruột sinh năm 2004; tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/10/2023 đến ngày 30/10/2023, bị khởi tố và chuyển sang tạm giam cho đến nay, bị cáo có mặt.
- Bị hại: Ông Lý Hữu T, sinh năm 1995; địa chỉ: Số F, đường T, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Hoàng L, sinh năm 1970; địa chỉ: Số F, đường T, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 23/10/2023, do không có tiền tiêu xài cá nhân, Triệu Minh S nảy sinh ý định cướp tiền của tài xế taxi. Thực hiện ý định, S đến cửa hàng T1 (không rõ địa chỉ) ở gần nơi S sinh sống thuộc Vinhomes G, phường L, thành phố T mua 01 con dao bằng kim loại. Sau khi mua được dao, S dùng áo khoác màu đen cuộn lại cất giấu, tiếp đến S đi lại xe ô tô taxi biển số 72E-002.92 do tài xế Lý Hữu T đang đậu xe gần đó, hỏi thuê xe của T để đi đến thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. T báo giá là 1.100.000 đồng, S đồng ý.
Khi lên xe, S ngồi hàng ghế phía sau, ngay sau lưng T, S để áo khoác có giấu con dao phía bên tay phải của S. Trên đường đi, do T chạy nhanh nên S chưa thực hiện được ý định của mình, S kêu T chở đến trước trường THPT C thuộc thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Lúc này, thấy đèn sáng nên S tiếp tục giả vờ đưa USB cho bạn rồi kêu T chở S quay về phường L, thành phố T với giá 500.000 đồng. Trên đường quay về được khoảng 45 phút, thấy bên phải có đoạn đường vắng, S kêu T dừng lại để đi vệ sinh. Khi T đang cho xe đi sát lề và giảm tốc độ, S chồm về phía trước và cầm con dao đã cất giấu kề vào cổ của T rồi nói “đưa tiền đây” nhưng T dùng tay nắm con dao, chống cự nên xe ô tô đã đụng vào trụ điện bên đường, T vùng ra, mở cửa xe bỏ chạy ra ngoài truy hô. Do sợ bị bắt, S mở cửa xe bỏ chạy vào vườn cây ngay khu công nghiệp T để bỏ trốn, T đến Công an thị trấn T trình báo sự việc.
Đến khoảng 03 giờ ngày 24/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra (CQCSĐT) Công an huyện B phối hợp với Công an thị trấn T bắt giữ được S, thu giữ tang vật gồm 01 con dao dài 29 cm, cán mủ dài 12 cm, lưỡi bằng kim loại dài 17 cm, mũi hơi nhọn, bề rộng lưỡi chỗ rộng nhất là 4,5 cm; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu trắng, số seri DX3XDA6KJCM0 (BL 26, 46); kiểm tra xe ô tô biển số 72E-002.92 và thu giữ 01 áo khoác vải mềm, dài tay, màu đen, hai bên tay áo có sọc màu trắng, ngực áo có chữ “adidas”.
Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 0413/KLTTCT-TTPYÐN ngày 08/5/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lý Hữu T tại thời điểm giám định là 02%.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ việc xảy ra, ông Triệu Minh P là cha của Triệu Minh S đã bồi thường cho bị hại Lý Hữu T 8.500.000 đồng chi phí sửa xe ô tô và điện thoại; ông T yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường 9.600.000 đồng gồm tiền thuê xe ngày 23/10/2023, tiền đi lại phục vụ công tác điều tra và tiền bồi thường tổn hại sức khỏe, tinh thần, thu nhập do bị ảnh hưởng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Hoàng L là mẹ của T không có yêu cầu gì thêm.
Cáo trạng số 54/CT-VKS ngày 12/6/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên truy tố Triệu Minh S về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168, điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Triệu Minh S từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thêm 9.600.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đối với 01 con dao dài 29 cm, 01 áo khoác vải mềm, dài tay, màu đen, có chữ “adidas” đây là công cụ S dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu trắng, số seri DX3XDA6KJCM0 không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả cho bị cáo.
Tại phiên toà, Bị cáo thừa nhận hành vi như nội dung cáo trạng truy tố. Lời nói sau cùng của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái; bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về hòa nhập cộng đồng, lo cho cha mẹ và em.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của CQCSĐT Công an huyện B, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, có đủ cơ sở kết luận về hành vi của bị cáo như sau: Ngày 23/10/2023, tại thị trấn T, huyện B, Triệu Minh S sử dụng 01 con dao bằng kim loại tấn công Lý Hữu T nhằm chiếm đoạt tài sản là tiền của T nhưng bị T chống trả.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản và sức khỏe của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhưng vì lười lao động và lòng tham mà cố ý dùng dao uy hiếp để chiếm đoạt tài sản của bị hại. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội cướp tài sản với tình tiết định khung là sử dụng phương tiện nguy hiểm được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên truy tố Triệu Minh S là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Thương tích 2% của bị hại xảy ra khi bị cáo dùng dao uy hiếp bị hại thì bị hại lấy tay nắm con dao để không bị đâm. Hành vi này đã bị thu hút vào Tội cướp tài sản nên Tòa án không xem xét về Tội cố ý gây thương tích được quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường, khắc phục toàn bộ hậu quả theo đề nghị của bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[7] Hội đồng xét xử xét tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để trừng trị, giáo dục bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Xét nhân thân bị cáo cho thấy, bị cáo phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo chưa chiếm đoạt được tài sản nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước để bị cáo an tâm cải tạo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
[8] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường 9.600.000 đồng, bị cáo đồng ý nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của các bên.
[10] Đối với 01 con dao dài 29 cm, 01 áo khoác vải mềm, dài tay, màu đen, có chữ “adidas” đây là công cụ S dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu trắng, số seri DX3XDA6KJCM0 là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả cho bị cáo.
[11]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Điểm d khoản 2 Điều 168, điểm b và s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- - Điều 106, Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- - Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án
Tuyên bố bị cáo Triệu Minh S phạm tội “Cướp tài sản”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Triệu Minh S 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/10/2023.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Triệu Minh S phải bồi thường cho bị hại 9.600.000 (Chín triệu sáu trăm nghìn) đồng.
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Tịch thu, tiêu hủy 01 con dao dài 29 cm cán mủ dài 12cm, lưỡi bằng kim loại dài 17cm, mũi hơi nhọn, bề rộng lưỡi chỗ rộng nhất là 4,5cm; 01 áo khoác vải mềm, dài tay, màu đen, hai bên tay áo có sọc màu trắng, ngực áo có chữ “adidas”.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Triệu Minh S phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Triệu Minh S phải chịu 480.000 (Bốn trăm tám mươi nghìn) đồng.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thanh toán số tiền phải thi hành thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thi hành.
Trả cho Triệu Minh S 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu trắng, số seri DX3XDAKJCM0.
Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Bích Huế |
Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về cướp tài sản
- Số bản án: 43/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án hình sự về tội cướp tài sản theo điểm d khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015