|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 43/2024/HS-ST
Ngày: 27 - 5 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Bình
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Đình Rồng
Ông Nguyễn Văn Thân
- Thư ký phiên tòa: Bà Bằng Thị Kim Dung, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Vi Thị Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn N, sinh ngày 16 tháng 11 năm 1976, nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ N, phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): lớp 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Phạm Văn B (đã chết) và bà Phạm Thị M; Vợ: Trần Thị T; Có 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2007.
- Tiền án, tiền sự: Không
- Nhân thân:
- + Ngày10/5/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong Bản án ngày 30/9/2019.
- + Ngày 03/6/2016, bị Công an phường T, thành phố T xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố S (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị T, sinh năm 1983; Trú tại: Tổ N, phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; (Có mặt)
- Người chứng kiến:
- + Ông Nguyễn Bá T1, sinh năm 1971; Trú tại: Tổ P, phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; (Vắng mặt)
- + Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1980; Trú tại: Tổ C, phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 9 giờ 30 phút ngày 10/01/2024, Tổ công tác Công an phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát, đảm bảo an ninh trật tự tại khu vực Tổ dân phố (TDP) P, phường L, thành phố S phát hiện Phạm Văn N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Biển kiểm soát (BKS) 20M6-8225 có biểu hiện nghi vấn liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác yêu cầu N dừng xe và kiểm tra Phạm Văn N thu giữ tại túi áo khoác bên trái Nghị đang mặc trên người 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng, N tự khai nhận là ma túy loại Heroinne, mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng nêu trên, ngoài ra còn thu giữ của Phạm Văn N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy G31 bên trong có 01 thẻ sim số 0865616673, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 20M6-8225, 01 xi lanh bằng nhựa (đã qua sử dụng), đồng thời Công an phường L chuyển hồ sơ vụ án đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S để giải quyết theo thẩm quyền .
Cơ quan điều tra Công an thành phố S tiến hành trưng cầu giám định số chất bột màu trắng thu giữ của Phạm Văn N. Tại bản kết luận giám định số 218 ngày 18/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định trong bì ký hiệu A1 là chất ma túy loại Heroinne có khối lượng thu giữ ban đầu là 0,238 gam (không phẩy hai trăm ba tám gam).
Cơ quan điều tra Công an thành phố S tiến hành trưng cầu giám định số chất bột màu trắng thu giữ của Phạm Văn N. Tại bản kết luận giám định số 218 ngày 18/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định trong bì ký hiệu A1 là chất ma túy loại Heroinne có khối lượng thu giữ ban đầu là 0,238 gam (không phẩy hai trăm ba tám gam)
Quá trình điều tra, Phạm Văn N khai nhận: Bản thân N nghiện chất ma túy từ năm 2012, hình thức sử dụng là chích, loại ma túy thường sử dụng là Heroine. Khoảng 9 giờ 00 phút ngày 10/01/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy, N điều khiển xe mô tô BKS 20M6-8225 (là xe của chị Trần Thị T sinh năm 1983, trú tại T, phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên) đến khu vực đường bê tông, thường gọi là “M" thuộc phường L, thành phố S, N mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi không biết tên tuổi, địa chỉ 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy Nghị đi vào ruộng ngô bên đường bê tông gần đó và lấy một phần ma túy sử dụng bằng hình thức chích ma túy vào cơ thể. Sau khi sử dụng ma túy xong, N gói phần còn lại bằng giấy màu trắng cất dấu vào túi áo khoác bên trái, còn chiếc xi lanh nhựa Nghị cất vào túi quần N đang mặc trên người rồi điều khiển xe mô tô về nhà, khi đi đến đường dân sinh thuộc TDP P, phường L, thành phố S thì bị Công an phường L phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng nêu trên
Vật chứng của vụ án gồm: 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có 0,196 gam mẫu ma túy còn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu (Đ) bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy G31 màu đen có số Imeil 351444750250081 số Imei2 357213210250088. 01 bì niêm phong ký hiệu (B) bên trong có 01 xi lanh bằng nhựa màu trắng (đã qua sử dụng); 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 20M6-8225 số khung RLHJC 430591028809 số máy JC43E0033654 được chuyển bảo quản theo quy định về quản lý vật chứng.
Tại bản cáo trạng số 38/CT-VKS ngày 16/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công đã truy tố bị cáo Phạm Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Phạm Văn N về tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt Phạm Văn N từ 24 đến 30 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về vật chứng, đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ: 01 bì niêm phong ký hiệu A1 chứa 0,196 gam ma túy, loại Heroine còn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu A2, chứa vỏ bì ký hiệu M và gói giấy màu trắng; 01 bì niêm phong ký hiệu (B) bên trong có 01 xi lanh bằng nhựa màu trắng (đã qua sử dụng).
Trả lại cho bị cáo Phạm Văn N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy G31 màu đen, tuy nhiên cần tạm giữ để thi hành án; Trả lại chị Trần Thị T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 20M6-8225, số khung RLHJC 430591028809, số máy JC43E0033654.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận. Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Kết luận điều tra và cáo trạng truy tố, bị cáo đã nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại giai đoạn điều tra và phiên tòa, bị cáo Phạm Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi, diễn biến nội dung sự việc đúng như nội dung kết luận điều tra và cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người chứng kiến, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ xác định: Hồi 9 giờ 30 phút, ngày 10/01/2024 tại khu vực TDP P, phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên, Phạm Văn N tàng trữ trái phép 0,238 gam (không phẩy hai trăm ba tám gam) ma túy, loại Heroine, mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Công an phường L, thành phố S phát hiện bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Nội dung điều luật quy định:
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c)...Heroine, ...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ...”
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công truy tố bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
[3] Đánh giá về tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
3.1. Về tính chất hành vi phạm tội: Bị cáo Phạm Văn N thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng chất ma tuý, gây mất trật tự an toàn xã hội.
3.2. Về nhân thân: Bị cáo N sinh ra, lớn lên tại địa phương, được gia đình nuôi ăn học hết lớp 5/12, làm lao động tự do. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, làm chủ được hành vi của mình, đã được các cơ quan, tổ chức giáo dục, cải tạo nhiều lần nhưng do bản thân thiếu tu dưỡng rèn luyện, không tiến bộ mà tiếp tục mắc vào tệ nạn ma tuý nên dẫn đến phạm tội. Bị cáo có nhân thân xấu Ngày10/5/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong Bản án ngày 30/9/2019. Ngày 03/6/2016, bị Công an phường T, thành phố T xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Nay lại tiếp tục có hành vi cất giấu trái phép 0,238 gam chất ma tuý, loại Heroin nhằm mục đích sử dụng nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy với tình tiết định khung quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự.
3.3. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này, bị cáo N được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là người phạm tội thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất của vụ án, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi đó gây nguy hiểm cho xã hội, là một trong các nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn xã hội và tội phạm về ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã được cơ quan, tổ chức giáo dục và cải tạo nhiều lần nhưng không tiến bộ vẫn tiếp tục mắc tệ nạn xã hội, nên cần phải xét xử bị cáo bằng án phạt tù nghiêm khắc, buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian theo đề nghị của Viện kiểm sát mới đủ điều kiện để giáo dục đối với bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội, đồng thời góp phần phòng ngừa, giáo dục chung. Hội đồng xét xử sẽ xem xét, cân nhắc xét xử bị cáo N mức án phạt tù phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo N mua ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân, nên xét không cần thiết áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn: Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.
[5] Về vật chứng và đồ vật liên quan trong vụ án: Đối với số ma túy bị thu giữ của Phạm Văn N còn lại sau giám định và một số đồ vật liên quan đến việc sử dụng ma túy đang được bảo quản tại Cơ quan thi hành án dân sự là vật Nhà nước cấm lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy G31 màu đen có số Imei1 351444750250081, số Imei2 357213210250088 thu giữ của Phạm Văn N xác định không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo, tuy nhiên cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 20M6-8225, số khung RLHJC 430591028809, số máy JC43E0033654 của chị T, do chị T không biết N sử dụng xe vào việc phạm tôi nên cần trả lại chị Trần Thị Tuyết .
[6] Về án phí: Bị cáo Phạm Văn N bị kết án, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
[8] Về nguồn gốc số ma túy Phạm Văn N khai mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi, do không biết tên tuổi địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh làm rõ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng: Điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn N 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2024.
* Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Phạm Văn N.
2. Về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn: Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Phạm Văn N 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo cho việc thi hành án.
3. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 bì niêm phong ký hiệu A1 chứa 0,196 gam ma túy, loại Heroine còn lại sau giám định.
- + 01 bì niêm phong ký hiệu A2, chứa vỏ bì ký hiệu M và gói giấy màu trắng
- + 01 bì niêm phong ký hiệu (B) bên trong có 01 xi lanh bằng nhựa màu trắng (đã qua sử dụng);
- Tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy G31 màu đen có số Imei1 351444750250081, số Imei2 357213210250088 để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
- Trả lại chị Trần Thị T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 20M6-8225, số khung RLHJC 430591028809, số máy JC43E0033654.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/5/2024 giữa Công an thành phố S và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sông Công).
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Phạm Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo Phạm Văn N, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Trần Thị T; báo cho biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Bình |
Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)
- Số bản án: 43/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 1. Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng: Điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn N 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2024.
