Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN ĐỊNH

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2024/HS-ST

Ngày 27 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Thắng.
  • Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Hưng
  • 2. Bà Trần Thị Hiền
  • Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Đăng Hiệp - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Đức H, sinh ngày 17/7/2003 tại xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn L, xã Y, huyện Y, Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Nguyễn Ngọc T, sinh năm: 1974; Mẹ đẻ: Lê Thị D, sinh năm: 1983; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/02/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  2. Họ và tên: Nguyễn Minh T1, sinh ngày 28/4/2002 tại xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn L, xã Y, huyện Y, Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Nguyễn Văn T2, sinh năm 1974; Mẹ đẻ: Trịnh Thị N, sinh năm: 1978; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ 2; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/02/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  3. Họ và tên: Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 21/10/2002 tại xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn L, xã Y, huyện Y, Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1980; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1982; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ 2; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Không.

    Tiền sự: Ngày 14/11/2023 bị cáo bị Công an huyện Y xử lý hành chính bằng hình thức phạt tiền 6.500.000 đồng về hành vi đánh nhau gây thương tích theo Quyết định xử phạt hành chính số 283/QĐ-XPHC. Bị cáo đã nộp phạt ngày 16/11/2023.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/02/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Những người làm chứng:

  1. Anh Lê Huy N1, sinh năm: 2002. Địa chỉ: Thôn P, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
  2. Anh Lê Huy T3, sinh năm: 2002. Địa chỉ: Thôn P, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
  3. Chị Lê Thị Q, sinh năm: 2007. Địa chỉ: Thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
  4. Chị Trịnh Thị T4, sinh năm: 2006. Địa chỉ: TDP I, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
  5. Chị Trịnh Thị T5, sinh năm: 2004. Địa chỉ: Thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
  6. Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1980. Địa chỉ: Thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa
  7. Anh Mai Văn S, sinh năm: 1973 Địa chỉ: Thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
  8. Anh Nguyễn Văn S1, sinh năm: 2008. Địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
  9. Chị Nguyễn Thị T6, sinh năm: 1972 Địa chỉ: Thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.

Những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 20/11/2023 Nguyễn Minh T1Nguyễn Tuấn A cùng một số người khác gồm Nguyễn Văn S1, sinh ngày 05/4/2008, Nguyễn Thị T7, sinh năm 2004, Lê Huy N1, sinh năm 2002 và Lê Huy T3, sinh năm 2002 đều ở xã Y, Trịnh Thị T4, sinh năm 2006 ở thị trấn Q và Lê Thị Q, sinh năm 2007 ở xã Y đến quán ăn S2 (ở thôn L, xã Y, huyện Y) ăn tối. Khoảng 60 phút sau Nguyễn Đức H và Trương Đức A1, sinh năm 2004 ở huyện V cũng đến quán ngồi ăn ở bàn phía gần cửa ra vào. Do quen biết nhau nên Nguyễn Đức H qua bàn ăn của Nguyễn Văn S1 và nhóm bạn đang ngồi ăn chúc rượu. Do H qua bàn chúc rượu ngồi lâu, nói nhiều và hút thuốc lá nên đến khoảng 01 giờ ngày 21/11/2023 Nguyễn Tuấn A và Nguyễn Thị T7 đi ra bàn ngồi uống nước. Nguyễn Minh T1 đi vệ sinh vào thấy Tuấn A và T7 đang ngồi uống nước nên cũng cùng ngồi uống nước với Tuấn A và T7. Lúc này tại bàn ăn S1, H và một số số người khác vẫn ngồi ăn, H cầm chén rượu lên uống với S1 nhưng S1 không uống, H giơ tay bắt tay Sơn nhưng S1 không đồng ý nên H và S1 xảy ra mâu thuẫn. H nói với S1 “Nhỏ tuổi mà nói chuyện bố láo” đồng thời H nói với S1 "thích thì ra ngoài đường đánh nhau" thì S1 nói "Anh ra luôn đi". Thấy H và S1 thách thức đánh nhau to tiếng thì Tuấn A đi lại chỗ H chửi tục và nói “anh nói gì đấy ?” và định lao vào đánh H thì S1 đẩy Tuấn A ra. Ngay lúc đó H cầm một cái bát bằng sứ dưới bàn ăn đập sượt vào đầu Tuấn A. Thấy Tuấn A bị đánh Nguyễn Minh T1 cầm chiếc cốc bằng thủy tỉnh ném về phía H nhưng không trúng. S1 đứng cạnh đó cầm một chiếc bát đập thẳng vào vùng trán và mặt của H, làm chiếc bát bị vỡ, rơi xuống nền nhà. H bị thương chảy máu vùng mặt. Được mọi người can ngăn nên S1 và nhóm bạn đi ra phía trước cửa quán còn H được mọi người đẩy vào phía trong quán lấy giấy ăn lau vết thương ở mặt. Mọi người can ngăn thì H tiếp tục hung hăng chửi bới, cởi áo và cầm chiếc bát bằng sứ ở bàn chạy ra ngoài đánh nhau với nhóm của S1 thì được anh Mai Văn S (Chủ quán ăn) ôm ngăn lại. Sau đó H lại đi ra phía cửa quán dùng tay đấm Tuấn A thì Tuấn AMinh T1 xông vào đánh nhau với H. Thấy các đối tượng đánh nhau anh Mai Văn S đẩy mọi người ra ngoài đường Quốc lộ 45 trước cổng quán thì H, Nguyễn Văn S1, Tuấn AMinh T1 tiếp tục chửi bới và lùa đuổi đánh nhau ngoài đường. Sau đó định vào quán ăn đánh nhau tiếp thì anh Nguyễn Văn Đ (bố của Tuấn A) và một số người có mặt đến can ngăn thì sự việc chấm dứt. Nhóm của Tuấn A đi về còn H được đưa đến Bệnh viện Đa khoa huyện V điều trị. Hậu quả Nguyễn Đức H bị nhiều vết thương rách da chảy máu ở vùng trán, sống mũi, mí mắt và đuôi cung mày trái, phải khâu, điều trị. Nguyễn Văn S1 bị thương mẫn đỏ vùng tai trai, Nguyễn Tuấn A bị một vết thương mẫn đỏ ở vùng đầu phía sau bên trái. Kết luận giám định thương tích số 2053/KLTTCT-PYTH ngày 21/12/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh T kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Đức H là 11%. Nguyễn Văn S1Nguyễn Tuấn A bị thương nhẹ, không đi bệnh viện điều trị và từ chối giám định thương tích.

Cơ quan điều tra đã ra quyết định trưng cầu giám định 50 (năm mươi) tệp Video lưu trữ trong đĩa DVD tích xuất tại hiện trường nơi xảy ra vụ việc. Tại bản Kết luận giám định số 1578/KL- KTHS ngày 17/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh T xác định: Không phát hiện dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 50 (năm mươi) tệp Video của 01 đĩa VCD gửi giám định. Qua giám định đã trích xuất 07 ảnh có liên quan.

Thu thập báo cáo của chính quyền địa phương và các bản tường trình của những người có liên quan thể hiện: Việc các đối tượng đánh nhau, chửi bới tại quán ăn đêm gần đường, gây thương tích, làm hư hỏng tài sản đã ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của quán. Vụ việc diễn ra trong thời gian dài gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự trên địa bàn thôn L nói riêng và xã Y nói chung.

Vật chứng của vụ án: Quá trình xảy ra sự việc xô sát, đánh nhau làm vỡ bát của quán ăn, chủ quán đã thu giọn nên không thu giữ được.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo và người liên quan gây thương tích cho Nguyễn Đức HNguyễn Minh T1, Nguyễn Tuấn ANguyễn Văn S1 đã tự nguyện bồi thường cho H 10.000.000 đồng, hiện tại Nguyễn Đức H không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Đối với thiệt hại về tài sản của quán ăn, bị cáo H và Minh T1 và anh S1 đã thống nhất thỏa thuận bồi thường 2.000.000đ. Anh S1 đã nhận tiền và không yêu cầu gì thêm.

Tại bản cáo trạng số 49/CT-VKSYĐ ngày 07/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định đã truy tố các bị cáo Nguyễn Đức HNguyễn Minh T1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Đối với Nguyễn Tuấn A về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự

Tại phiên tòa:

Các bị cáo Nguyễn Đức H, Nguyễn Minh T1Nguyễn Tuấn A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đức HNguyễn Minh T1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Căn cứ khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Đức H từ 27 tháng đến 30 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 54 tháng đến 60 tháng. Xử phạt Nguyễn Minh T1 từ 24 tháng đến 27 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 48 tháng đến 54 tháng.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm s, b, i khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Tuấn A từ 03 tháng đến 05 tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  • Về trách nhiệm dân sự: Đã bồi thường xong.
  • Về án phí: Thực hiện theo quy định của pháp luật của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Nhận định về hành vi, quyết định tố tụng:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của người tiến hành tố tụng và quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Như vậy, hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Y; Hành vi của Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Nhận định về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Thông qua tranh tụng tại phiên toà, các bị cáo Nguyễn Đức H, Nguyễn Minh T1, Nguyễn Tuấn A hoàn toàn thừa nhận: Khoảng 01 giờ ngày 21/11/2023 tại quán ăn S2 ở thôn L, xã Y, huyện Y, Nguyễn Đức H, Nguyễn Minh T1, Nguyễn Tuấn ANguyễn Văn S1 đã có hành vi chửi bới, đánh nhau trong quán ăn và lùa đuổi đánh nhau ngoài đường Quốc lộ 45 trước cửa quán ăn, gây mất an ninh trật tự trên địa bàn. Hậu quả Nguyễn Đức H bị thương tích 11%, Nguyễn Văn S1Nguyễn Tuấn A bị thương nhẹ. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự trên địa bàn. Đối chiếu với lời khai của cáo bị cáo trong hồ sơ vụ án, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thấy hoàn toàn phù hợp. Như vậy, HĐXX xét thấy có đủ căn cứ chứng minh hành vi dùng hung khí lùa đuổi, đánh nhau, chửi bới gây mất trật tự công cộng, của các bị cáo. Với hành vi trên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng.” Như vậy, tội phạm đã được thành lập theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự với tình tiết dùng hung khí đối với các bị cáo Nguyễn Đức HNguyễn Minh T1; Tội phạm đã được thành lập theo khoản 1 Điều 318 BLHS đối với bị cáo Nguyễn Tuấn A. VKSND huyện Yên Định truy tố các bị cáo theo tội danh trên, đề nghị HĐXX áp dụng điều luật là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đối với Nguyễn Văn S1 gây thương tích cho H tổn hại 11% sức khỏe, tại thời điểm phạm tội S1 chưa đủ tuổi 16 tuổi nên không phải chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, cơ quan công an xử lý hành chính là phù hợp.

[3] Đánh giá tính chất của vụ án và quan hệ pháp luật xâm phạm:

Tính chất vụ án là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó gây mất trật tự nơi công cộng, gây hoang mang, lo lắng và bức xúc trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an xã hội trên địa bàn, ảnh hưởng đến việc kinh doanh của quán ăn S2. Không những thế hành vi đó còn xâm phạm đến thân thể, sức khoẻ của người khác. Hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật để răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Đánh giá về vai trò của các bị cáo:

Đây là vụ án hình sự có tính chất đồng phạm giản đơn. Trong đó, Nguyễn Đức H là người gây ra mâu thuẫn dẫn đến việc đánh nhau, gây rối ngay từ đầu cho đến khi kết thúc sự việc nên giữ vai trò số một. Nguyễn Minh T1 là người tham gia tích cực ngay từ đầu, cầm cốc thủy tinh ném nhau và đánh nhau với H nên có vai trò thứ hai. Nguyễn Tuấn A chỉ chửi bới và dùng tay chân đánh nhau nên giữ vai trò thứ ba trong vụ án.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân:

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện rõ sự ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại nên các bị cáo được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Riêng bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51.

Trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Các bị cáo Nguyễn Đức H Nguyễn Minh T1 có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng, có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51, có nơi cư trú ổn định rõ ràng, nhất thời phạm tội, nên không cần thiết áp dụng hình phạt nghiêm khắc mà cho bị cáo được hưởng án cải tạo tại địa phương, cũng đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

Bị cáo Nguyễn Tuấn A có 3 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo đang có tiền sự, chiếu theo Nghị quyết 01/2022/NQ – HĐTP TANDTC nên không đủ điều kiện để được hưởng án treo. Do vậy, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc trong môi trường giam giữ đối với các bị cáo là cần thiết. Có như vậy mới đủ điều kiện, thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, bị cáo có vai trò không đáng kể trong vụ án có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên khi quyết định hình phạt cho bị cáo mức án thấp, tạo điều kiện cho bị cáo sớm hòa nhập cộng đồng.

[6] Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí:

  • - Trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã bồi thường thiệt hại về thương tích cho nhau, bồi thường tài sản cho chủ quán ăn. Các bên liên quan không có yêu cầu đề nghị bồi thường gì thêm, nên HĐXX không xem xét.
  • - Về án phí: Các bị cáo bị kết án có tội, nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đức H, Nguyễn Minh T1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”; Căn cứ khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; Điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 và khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt Nguyễn Đức H 27 (hai mươi bảy) tháng tù tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 54 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Xử phạt Nguyễn Minh T1 24 (Hai mươi bốn) tháng tù tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm s, b, i khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt Nguyễn Tuấn A 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  • Giao Nguyễn Đức HNguyễn Minh T1 cho UBND xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục, trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục người đó.
  • Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo quy định tại khoản Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án Hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành thi hành hình phạt tù, của bản án đã cho hưởng án treo
  • - Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Đức H, Nguyễn Minh T1Nguyễn Tuấn A mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1 Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên quyền kháng cáo bản án cho các bị cáo trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện Yên Định;
  • - Công an huyện Yên Định;
  • - Các bị cáo;
  • - Chi cục THADS Yên Định;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Hữu Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA về hình sự sơ thẩm (tội gây rối trật tự công cộng)

  • Số bản án: 43/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Gây rối trật tự công cộng)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức H và đồng phạm gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger