Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN CẨM LỆ, TP.ĐÀ NẴNG

Bản án số: 43/2024/HS-ST

Ngày: 26 - 4 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Hai

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Đức Hiếu

Ông Nguyễn Văn Trình

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Nguyên Khang, Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Tề Hoàng Anh Tuấn - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Cao Thái Á, sinh ngày 08 tháng 5 năm 1987 tại Đà Nẵng. Nơi cư trú: Số C đường Đ, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cao Xuân T, sinh năm: 1959; còn sống và bà Nguyễn Thị Xuân H, sinh năm: 1961; còn sống. Bị cáo là con duy nhất trong gia đình, bị cáo khai bị cáo có vợ, đã ly hôn và có 01 con sinh năm 2022; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giam ngày 26 tháng 12 năm 2023. (Có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Chị Phạm Thị Trường G, sinh năm: 1983; Trú tại: Số C đường L, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. (Có đơn xin xét xử vắng mặt )

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 8 năm 2022, trong quá trình chơi cầu lông chung, bị cáo Cao Thái Á quen biết với chị Phạm Thị Trường G (sinh năm: 1983; Trú tại: Số C đường L, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng) rồi cả hai nảy sinh tình cảm và có nhiều lần tự nguyện quan hệ tình dục với nhau. Trong thời gian này, bị cáo có sử dụng điện thoại di động lén quay lại cảnh quan hệ tình dục của 02 người. Đến cuối tháng 12 năm 2022, do lo sợ gia đình biết chuyện giữa bị cáo và chị G nên chị G đề nghị bị cáo chấm dứt mối quan hệ nhưng bị cáo không đồng ý. Để thỏa mãn nhu cầu

tình dục của bản thân, bị cáo đã sử dụng điện thoại di động thông qua mạng xã hội Facebook nhiều lần nhắn tin và gửi video quay cảnh quan hệ tình dục của 02 người cho chị G, đe dọa sẽ công khai về mối quan hệ giữa 02 người và sẽ gửi video quay lại cảnh quan hệ tình dục giữa 02 người cho chồng và bạn bè chị G biết, nếu chị G không đáp ứng yêu cầu của bị cáo. Do lo sợ lời đe dọa của bị cáo làm ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình nên chị G nhiều lần miễn cưỡng quan hệ tình dục theo yêu cầu của bị cáo. Riêng trong tháng 12 năm 2023, bị cáo đã có 03 lần đe dọa, ép buộc chị G phải miễn cưỡng giao cấu với bị cáo, cụ thể:

- Lần 01: Khoảng 21 giờ 20 phút ngày 08 tháng 12 năm 2023, bị cáo sử dụng điện thoại di động Iphone X gắn sim số 0815.835.xxx truy cập vào ứng dụng Facebook và sử dụng tài khoản “Thai Anh Cao” nhắn tin qua tài khoản “Hoàng Hôn Tím” của chị G, để yêu cầu chị G qua nhà bị cáo tại số C Đ, quận N, thành phố Đà Nẵng để quan hệ tình dục với bị cáo, nếu không bị cáo đe dọa sẽ kể chuyện và gửi video quan hệ tình dục của 02 người cho chồng chị G biết. Bị bị cáo nhắn tin đe dọa liên tục và lo sợ bị cáo đã nhậu say đi đến nhà chị G quậy phá gây ồn ào làm mọi người biết chuyện nên chị G đồng ý rồi điều khiển xe đi đến nhà bị cáo và miễn cưỡng giao cấu với bị cáo, sau đó chị G đi về.

- Lần 02: Khoảng 22 giờ 10 phút ngày 15 tháng 12 năm 2023, bị cáo nhắn tin yêu cầu chị G qua nhà để quan hệ tình dục với bị cáo nhưng chị G không đồng ý do đang phải chăm sóc cha ở bệnh viện tại Quảng Nam thì bị cáo gửi hình ảnh chụp chị G vào nhóm facebook “hội cầu lông Hòa X”, sau đó bị cáo thu hồi hình ảnh lại rồi đe dọa sẽ tiếp tục gửi video quay cảnh quan hệ tình dục giữa 02 người vào trong nhóm cho mọi người xem và sẽ nói cho chồng chị G biết nếu chị G không đồng ý. Đến khoảng 09 giờ 40 phút ngày 16 tháng 12 năm 2023, bị cáo điều khiển xe đi vào Quảng Nam rồi thuê phòng tại nhà nghỉ số G đường P, thành phố T, Quảng Nam và nhắn tin yêu cầu chị G đến gặp bị cáo. Do lo sợ bị cáo gửi video vào trong nhóm nên chị G phải đến nhà nghỉ rồi miễn cưỡng giao cấu với bị cáo, sau đó chị G đi vào bệnh viện, còn bị cáo rời khỏi nhà nghỉ đi về lại Đà Nẵng.

- Lần 03: Khoảng 21 giờ ngày 20 tháng 12 năm 2023, bị cáo muốn quan hệ tình dục với chị G nên nhắn tin bị cáo đang ngồi nhậu một mình và yêu cầu chị G đến gặp bị cáo. Chị G nhắn tin “đang đau đầu hơi mệt nên cần nghỉ ngơi” để lấy lý do né tránh nhưng bị cáo tiếp tục hỏi chị G “về chưa?”. Do lo sợ bị cáo đã nhậu say sẽ đến nhà tìm và đe dọa như các lần trước nếu không cho bị cáo quan hệ tình dục nên chị G trả lời “về rồi”. Một lúc sau, bị cáo đến nhà chị G tại số C đường L, phường H, quận C, thanh phố Đ và lo sợ bị cáo đã nhậu say quậy phá gây ồn ào làm mọi người biết chuyện nên chị G phải miễn cưỡng để cửa phía sau nhà cho bị cáo vào nhà và giao cấu với chị G, sau đó bị cáo đi về.

Đến 20 giờ ngày 25 tháng 12 năm 2023, do quá bức bách và mệt mỏi, chị G chủ động nhắn tin đề nghị bị cáo chấm dứt việc ép buộc, đe dọa chị G để quan hệ tình dục và van xin bị cáo buông tha cho chị G nhưng bị cáo không đồng ý. Sau đó, bị cáo tiếp tục đe dọa chị G, buộc chị G phải để cho bị cáo qua nhà chị G để quan hệ

tình dục, nếu không bị cáo sẽ thông báo mọi chuyện cho chồng của chị G biết. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, bị cáo điều khiển xe mô tô BKS: 43C2-034.61, hiệu Honda AirBlade, màu đen đến nhà chị G rồi đi ra phía sau nhà chụp ảnh cửa thoát hiểm gửi qua chị G và tiếp tục đe doạ đập nát cửa cho mọi người biết rồi gửi video quay cảnh quan hệ tình dục của 02 người lên “hội cầu lông Hòa X” và gửi cho chồng chị G. Do không chịu đựng được sự đe dọa, ép buộc của bị cáo nữa, nên chị G điện thoại trình báo Công an phường H đến khống chế và đưa bị cáo về công an làm việc.

- Vật chứng và tài sản thu giữ:

  • + 01 xe mô tô BKS: 43C2-034.61, hiệu Honda AirBlade, màu đen;
  • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone X, màu bạc, gắn sim số 0815835919;
  • + 01 vỉ thuốc 04 viên hiệu Torfin 100 (đã sử dụng còn lại 01 viên);
  • + 01 tuýp thuốc hiệu Emla 5% (đã qua sử dụng).
  • + 01 DVD ghi dữ liệu video hình ảnh quan hệ tình dục giữa bị cáo Cao Thái Á và chị Phạm Thị Trường G.

Tại bản cáo trạng số 36/CT-VKSCL ngày 02 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Cao Thái Á về tội “Cưỡng dâm” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 143 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về TNHS: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 143, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 BLHS xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù giam.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015, Điều 106 Bộ luật TTHS đề nghị HĐXX tuyên:

  • - Đối với xe mô tô hiệu Honda AirBlade, màu đen, biển số: 43C2- 034.61, số máy JF94E0319877, số khung: RLHJF6339MZ661068 là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên đề nghị HĐXX trả lại cho bị cáo.
  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone X, màu bạc, gắn sim số 0815835919 có sô Imei: 359409084991447 bị cáo dùng để gọi điện, đe dọa bị hại nên đề nghị HĐXX tịch thu sung công quỹ Nhà nước và tịch tiêu hủy sim số 0815835919.
  • - Đối với 01 vỉ thuốc hiệu Torfin 100 và 01 tuýp thuốc hiệu Emla 5% (đã qua sử dụng) đề nghị HĐXX tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 DVD ghi dữ liệu video hình ảnh quan hệ tình dục giữa bị cáo Cao Thái Á và bị hại là tài liệu, chứng cứ lưu trữ theo hồ sơ vụ án.

Về phần dân sự: Bị hại không yêu cầu về phần dân sự nhưng bị cáo tự nguyện nộp số tiền 2.000.000 đồng để bồi thường tổn thất về tinh thần cho bị hại theo Biên

lai số 0001822 ngày 25 tháng 3 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ. Đề nghị HĐXX tuyên trả cho bị hại.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi của mình, bị cáo xin lỗi người bị hại, xin lỗi gia đình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về xác định tội phạm: Qua xem xét lời khai của bị cáo, quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:

Từ cuối tháng 12 năm 2022 đến ngày 25 tháng 12 năm 2023, trên địa bàn phường H quận C và một số quận, huyện thuộc thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam, bị cáo Cao Thái Á đã nhiều lần có hành vi nhắn tin đe dọa thông báo mối quan hệ bất chính trước đây giữa bị cáo và chị Phạm Thị Trường G, gửi video quay cảnh quan hệ tình dục của 02 người cho chồng và bạn bè chị G biết, khiến chị G lâm vào tình cảnh quẫn bách phải nhiều lần miễn cưỡng giao cấu với bị cáo. Trong tháng 12 năm 2023 bị cáo đã đe dọa buộc chị G phải miễn cưỡng giao cấu đối với bị cáo 03 lần nên thuộc tình tiết định khung tăng nặng: “Phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 143 Bộ luật hình sự như cáo trạng số 36/CT-VKSCL ngày 02 tháng 4 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Cẩm lệ truy tố là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền được tôn trọng và bảo vệ về nhân phẩm, danh dự và sức khỏe của con người, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nên cần phải xử phạt thích đáng, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để có tác dụng cải tạo giáo dục đồng thời để răn đe làm gương cho người khác.

Tuy nhiên, sau khi bị bắt và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường tổn thất tinh thần cho bị hại mặc dù bị hại không yêu cầu, gia đình bị cáo có công cách mạng, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, hành vi phạm tội của bị cáo cũng có một phần lỗi của người bị hại. Do

đo, cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 khi quyết định hình phạt.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS, có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS nên HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng có tác dụng răn đe đối với bị cáo.

[4] Đánh giá về vật chứng, xử lý vật chứng:

  • - Đối với xe mô tô hiệu Honda AirBlade, màu đen, biển số: 43C2- 034.61, số máy JF94E0319877, số khung: RLHJF6339MZ661068 là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên HĐXX trả lại cho bị cáo.
  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone X, màu bạc, gắn sim số 0815835919 có số Imei: 359409084991447 bị cáo dùng để gọi điện, đe dọa bị hại nên HĐXX tịch thu sung công quỹ Nhà nước;
  • - Tịch thu tiêu hủy sim số 0815835919
  • - Đối với 01 vỉ thuốc hiệu Torfin 100 và 01 tuýp thuốc hiệu Emla 5% (đã qua sử dụng) tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 DVD ghi dữ liệu video hình ảnh quan hệ tình dục giữa bị cáo Cao Thái Á và bị hại là tài liệu, chứng cứ lưu trữ theo hồ sơ vụ án.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Chị Phạm Thị Trường G không yêu cầu về phần dân sự nhưng bị cáo tự nguyện nộp số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) để bồi thường tổn thất về tinh thần cho bị hại theo Biên lai số 0001822 ngày 25 tháng 3 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ. Chị Phạm Thị Trường G nhận tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).

[6] Về án phí: Căn cứ Điều 136 của bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[7] Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của HĐXX nên HĐXX chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 143, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Cao Thái Á phạm tội: “Cưỡng dâm”

    + Xử phạt bị cáo Cao Thái Á 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 26 tháng 12 năm 2023).

  2. Về xử lý vật chứng:

    Căn cứ vào Điều 47 BLHS năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:

    • - Trả lại cho bị cáo 01 (một) chiếc xe mô tô hiệu Honda AirBlade, màu đen, biển số: 43C2- 034.61, số máy JF94E0319877, số khung: RLHJF6339MZ661068
    • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone X, màu bạc, gắn sim số 0815835919 có số Imei: 359409084991447.
    • - Tịch thu tiêu hủy sim số 0815835919.
    • - Tịch thu tiêu hủy 01(một) vỉ thuốc hiệu Torfin 100 và 01(một) tuýp thuốc hiệu Emla 5% (đã qua sử dụng).
    • (Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02 tháng 4 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận C, thành phố Đà Nẵng và Chi cục thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng).
    • - Đối với 01 DVD ghi dữ liệu video hình ảnh quan hệ tình dục giữa bị cáo Cao Thái Á và bị hại là tài liệu, chứng cứ lưu trữ theo hồ sơ vụ án.
  3. Về trách nhiệm dân sự:

    Căn cứ các điều 584, 590 Bộ luật dân sự năm 2015

    Chị Phạm Thị Trường G nhận tại cơ quan Thi hành án dân sự quận C, thành phố Đà Nẵng (Địa chỉ: Số D, đường B, tổ B, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng) số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).

  4. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo với thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Đà Nẵng;
  • - VKSND quận Cẩm Lệ;
  • - Công an quận Cẩm Lệ;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Chi cục THADS quận Cẩm Lệ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Hai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về cưỡng dâm

  • Số bản án: 43/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cưỡng dâm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Cao Thái Ánh phạm tội Cưỡng dâm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger