TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 43/2024/HS-ST Ngày 25-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M
TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Huấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vi Văn Thuy và ông Lành Văn Thủy
- Thư ký phiên toà: Ông Quàng Văn Nam, Thư ký Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện VKSND huyện M, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Đức, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Điện Biên.
Trong ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Điện Biên. Tòa án nhân dân huyện M xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 47/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Quàng Văn T, sinh năm 1991, tại huyện T, tỉnh Điện Biên.
Tên gọi khác: Không có tên gọi khác
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản N, xã N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên.
Nghề nghiệp: Nông dân; Trình độ học vấn: Lớp 9/12.
Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông: Quàng Văn T, sinh năm 1954;
Con bà: Lường Thị X, sinh năm 1964.
Bị cáo có vợ Lò Thị H, sinh năm 1986 (đã ly hôn năm 2023) và 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2012.
Tiền án: Có một tiền án, ngày 30/11/2021 Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Điện Biên xét xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo chấp hành hình phạt đến ngày 22/02/2023 ra trại.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Bị cáo đã bị Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Điện Biên xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích. Bị cáo không bị xử phạt vi phạm hành chính.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 17/3/2024, tạm giam từ ngày 26/3/2024 đến ngày xét xử, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 17/3/2024, Quàng Văn T mang theo 30.000 đồng đi bộ từ nhà anh trai bị cáo là Quàng Văn T1 ở bản M, xã M đến bản T, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên tìm mua ma túy về sử dụng. Đến nơi, bị cáo gặp và giao dịch mua được 01 gói Heroine gói bằng nilon màu hồng với giá 30.000 đồng của một người đàn ông dân tộc Mông bị cáo không rõ lai lịch. Mua được ma túy, bị cáo cầm ở tay trái rồi đi bộ quay về. Hồi 12 giờ 00 phút cùng ngày, tổ công tác Đồn Biên phòng M làm nhiệm vụ tại khu vực bản N, xã M phát hiện, bắt quả tang bị cáo đang tàng trữ một gói Heroine được gói trong gói nilon màu hồng có khối lượng 0,15 gam.
Cáo trạng số 27/CT-VKS-MN ngày 29/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố bị cáo Quàng Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên phạt bị cáo Quàng Văn T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự về xử lý vật chứng của vụ án.
Áp dụng Điều 136/BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST.
Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng, bản luận tội của Viện Kiểm sát nhân dân huyện M tỉnh Điện Biên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về chứng cứ phạm tội:
Biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 12 giờ 15 phút ngày 17/3/2024 bút lục 01, 02 chứng minh bị cáo Quàng Văn T bị bắt khi đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác Đồn Biên phòng M đã tạm giữ của bị cáo 01 gói nilon màu hồng bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là Heroine.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, và niêm phong vật chứng gửi giám định hồi 17 giờ 10 phút ngày 17/3/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M bút lục số 41 thì khối lượng vật chứng thu giữ khi bắt quả tang bị cáo Quàng Văn T là 0,15 gam nghi Heroine gửi toàn bộ đi giám định.
Kết luận giám định số 572/KL-KTHS ngày 23/3/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên bút lục số 43 đã kết luận: Vật chứng thu giữ của Quàng Văn T có khối lượng 0,15 gam chất bột màu trắng là chất ma túy, loại Heroine. Hoàn lại đối tượng giám định.
[2] Về hành vi phạm tội: Kết quả tranh tụng tại phiên tòa cho thấy bị cáo Quàng Văn T có tội. Bị cáo đã tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân. Chứng cứ xác định hành vi của bị cáo đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo đã hoàn thành và được thực hiện bằng lỗi cố ý trực tiếp, làm mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Quàng Văn T có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.
[3] Về tính chất mức độ phạm tội:
Khối lượng Heroine thu giữ của Quàng Văn T là 0,15 gam. Khối lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ ở trong khoảng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam. Tính chất mức độ phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù.
[3] Về nhân thân của bị cáo:
Bị cáo Quàng Văn T sinh sống tại bản N, xã N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên. Bị cáo đã sử dụng ma túy trong thời gian dài và chưa từ bỏ được. Đây là nguyên nhân chính bị cáo thực hiện hành vi phạm tội.
[4] Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 30/11/2021 Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Điện Biên xét xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo chấp hành hình phạt đến ngày 22/02/2023 ra trại. Ngày 17/3/2024 bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trong thời gian bản án chưa được xóa án tích theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 70 của Bộ luật Hình sự. Do vậy lần xét xử này Hội đồng xét xử áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự “tái phạm” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Nhận định trên đây là cơ sở để chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Quàng Văn T theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử xem xét và áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt cho bị cáo nhưng vẫn phải nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cai nghiện ma túy đồng thời cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội.
[6] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[7] Về hình phạt bổ sung:
Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Song xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, tài sản trong gia đình không có gì giá trị, bị cáo không giữ chức vụ gì trong xã hội, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Quàng Văn T.
[8] Về vật chứng: Vật chứng là 0,15 gam Heroine, gửi toàn bộ đi giám định và được hoàn lại lại 0,12 gam và 01 mảnh nilon màu hồng không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điểm a Khoản 1 Điều 23; khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
[10] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
[11] Các vấn đề khác: Nguồn gốc ma túy bị thu giữ bị cáo khai mua của một người đàn ông dân tộc Mông không rõ lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Nhé không đủ cơ sở để xác minh làm rõ đối tượng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Quàng Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ngày 17/3/2024.
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 0,12 gam Heroine; 01 mảnh nilon màu hồng là vật chứng còn lại sau giám định. Vật chứng được đựng trong 02 (hai) gói niêm phong có đặc điểm như biên bản giao, nhận vật chứng hồi 14 giờ 15 phút ngày 29/5/2024 giữa Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện M.
4. Án phí: Áp dụng Điều 136/BLTTHS; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Bị cáo Quàng Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Quàng Văn T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 25/6/2024.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | ||
HỘI THẨM | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | HỘI THẨM |
Vi Văn Thuy | Nguyễn Mạnh Huấn | Lành Văn Thủy |
Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 25/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 43/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Quàng Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
