Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẨM PHẢ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2024/HS-ST

Ngày: 25 - 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Đạt.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Đăng Triệu.

2. Bà Nguyễn Thị Hiền.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Trần Duy Khiêm - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2024/TLST- HS ngày 26 tháng 03 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST- HS ngày 11/04/2024, đối với bị cáo:

Đặng Văn T - Tên gọi khác: không; sinh ngày 08 tháng 01 năm 1958, tại huyện T, tỉnh Thái Bình. Nơi thường trú: tổ H, khu D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: tổ D, khu A, phường Q, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đặng Quang T1 (đã chết) và bà: Phạm Thị L (đã chết); có vợ: Đào Thị H (đã chết) và con: có 01 con, sinh năm 1987; tiền sự: không;

- Tiền án:

  • + Ngày 24/9/1993, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 10 năm tù về tội “Trốn khỏi nơi giam giữ”, đồng thời tổng hợp với hình phạt 7 năm 26 ngày tù của bản án số 29/HSST ngày 16/6/1992 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, tổng hình phạt phải chấp hành chung cho cả hai bản án là 17 năm 26 ngày tù. Đến ngày 10/11/2007 chấp hành xong.
  • + Ngày 15/4/2009, Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt 17 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm”. Ngày 18/01/2022 chấp hành xong.

- Nhân thân:

  • + Ngày 29/01/1980, Tòa án nhân dân thị xã Cẩm Phả (nay là thành phố C), tỉnh Quảng Ninh xử phạt 18 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa”.
  • + Ngày 26/02/1982, Tòa án nhân dân thị xã Cẩm Phả (nay là thành phố C), tỉnh Quảng Ninh xử phạt 18 tháng tù giam, về tội “Trộm cắp tài sản công dân”. Đến tháng 4/1983 chấp hành xong.
  • + Ngày 29/02/1984, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 04 năm tù giam, về tội “Trộm cắp tài sản công dân”. Đến tháng 7/1987 chấp hành xong.
  • + Ngày 10/10/1987, Tòa án nhân dân thị xã Hồng Gai (nay là thành phố H), tỉnh Quảng Ninh xử phạt 09 tháng tù giam, về tội “Trộm cắp tài sản công dân”. Đến tháng 8/1988 chấp hành xong.

Bị cáo bị bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 14/12/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: anh Vũ Mạnh T2, sinh năm 1978 và ông Trịnh Viết H1, sinh năm 1961. Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thông qua bạn bè xã hội, Vũ Mạnh T2 biết Đặng Văn T bán ma túy Heroine. Khoảng 18 giờ ngày 14/12/2023, T2 đi bộ đến nhà T, thuộc tổ D, khu A, phường Q, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh (nhà do ông Trịnh Viết H1 cho T mượn để quản lý sử dụng), hỏi mua 01 gói ma túy Heroine, với giá 200.000 đồng để sử dụng, T đồng ý. Mua xong, T2 nói với T cho sử dụng ma túy tại nhà T, T đồng ý. T2 ngồi xuống nền nhà cạnh giường ngủ của T, lấy bơm kim tiêm, nước cất (đã mua từ trước) pha số ma túy vừa mua của T, rồi sử dụng hết bằng cách tiêm vào cơ thể. Đến khoảng 18 giờ 25 phút cùng ngày, T2 vừa sử dụng xong ma túy thì Công an thành phố C đến kiểm tra hành chính phát hiện, thu giữ vật chứng.

Thu giữ của T giao nộp: 22 gói giấy (loại giấy trắng có dòng kẻ), bên trong đều chứa chất bột màu trắng, T khai là ma túy Heroine, nhằm mục đích để bán; 200.000 đồng (là tiền T vừa bán ma túy cho T2) và 01 điện thoại di động Iphone gắn sim số 0382.985.xxx.

Thu giữ trong lòng bàn tay của T2 cầm: 01 túi nilon (rách) bên trong có 01 bơm kim tiêm, 01 mảnh giấy trắng ô ly và 01 ống thủy tinh vỡ một đầu.

Tại Bản kết luận giám định số 1771/KL- KTHH ngày 22/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: chất bột màu trắng có trong 22 gói thu giữ của Đặng Văn T (kí hiệu từ M1 đến M22) gửi giám định là ma túy, loại Heroine, tổng khối lượng: 1,513 gam. Tìm thấy chất ma túy Heroine trong 01 bơm kim tiêm và mảnh giấy có dòng kẻ gửi giám định.

Tại Bản kết luận giám định số 1772/KL- KTHH ngày 22/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: Tìm thấy M là sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy Heroine trong mẫu nước tiểu của T2 và không tìm thấy chất ma túy trong mẫu nước tiểu của T.

Tại cơ quan điều tra, Đặng Văn TVũ Mạnh T2 khai nhận phù hợp với nhau về nội dung nêu trên. Ngoài ra, T khai: T không nghiện ma túy, nguồn gốc số ma túy Công an thu giữ là của T mua trước đó của 01 người đàn ông tên “Q” tại khu vực chợ C, đường bao biển thuộc phường C, thành phố C vào ngày 13/12/2023, với giá 1.500.000 đồng. Sau đó, T dùng giấy ô ly chia nhỏ ma túy vào 23 gói, mục đích để bán kiếm lời, với giá 200.000 đồng/01gói. Đây là lần đầu T bán ma túy cho T2 và cho T2 sử dụng ma túy tại nhà mình.

Tại bản Cáo trạng số: 29/CT- VKSCP ngày 23/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Đặng Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm q khoản 2 Điều 251 và điểm đ khoản 2 Điều 256 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo Trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm q khoản 2 Điều 251 và điểm đ khoản 2 Điều 256 của Bộ luật hình sự.

Áp dụng: điểm q khoản 2 Điều 251; điểm đ khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 55 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt: bị cáo Đặng Văn T từ 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 08 (Tám) năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; từ 07 (Bảy) năm tù đến 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt: buộc bị cáo Đặng Văn T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội từ 14 (Mười bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 15 (Mười lăm) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý vật chứng của vụ án.

Bị cáo Đặng Văn T thừa nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

Người làm chứng anh Vũ Mạnh T2 và ông Trịnh Viết H1 trong quá trình điều tra đều có lời khai thể hiện về thời gian, địa điểm, vật chứng thu giữ được phù hợp với lời khai nhận của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

[2] Hành vi của bị cáo, qua tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo Đặng Văn T thừa nhận: khoảng 18 giờ ngày 14/12/2023, tại tổ D, khu A, phường Q, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, Đặng Văn T có hành vi bán trái phép 01 (một) gói ma túy Heroine với giá 200.000 đồng cho Vũ Mạnh T2. Sau đó, T cho T2 mượn địa điểm tại nhà thuộc quyền quản lý của mình để sử dụng trái phép chất ma túy, thì bị Công an kiểm tra phát hiện, thu giữ vật chứng. Ngoài ra, T còn có hành vi tàng trữ trái phép 1,513 gam ma túy, loại Heroine, nhằm mục đích để bán.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quy định độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Bị cáo đã có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Vũ Mạnh T2 và cho T2 sử dụng ma túy tại nơi ở thuộc quyền quản lý của mình nên đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã có 02 tiền án, chưa được xóa án tích nhưng tiếp tục thực hiện tội phạm nên thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” là tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251; điểm đ khoản 2 Điều 256 của Bộ luật hình sự. Như vậy, Cáo trạng số 29/CT- VKSCP ngày 23/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.

Điều 251 của Bộ luật hình sự, quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

q) Tái phạm nguy hiểm”.

Điều 256 của Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 255 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

đ) Tái phạm nguy hiểm.

[3] Về tính chất, mức độ thực hiện tội phạm: hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì ma túy là chất gây nghiện độc hại, làm cho người nghiện ma túy không còn khả năng làm chủ bản thân, lệ thuộc ma túy về mặt thể chất. Biết và nhận thức được tác hại của ma túy, sự nghiêm cấm của Nhà nước nhưng chỉ vì thiếu ý thức chấp hành pháp luật, mong muốn thu lời bất chính nên bị cáo bất chấp điều đó, mua bán trái phép chất ma túy nhằm kiếm lời và còn sử dụng chính nơi ở thuộc quyền quản lý của mình để cho đối tượng khác sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi phạm tội của bị cáo tác động xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương nên việc đưa bị cáo ra xét xử công khai là cần thiết, đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật. Cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định, để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo là đối tượng có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xử lý về mặt hình sự nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại đi vào con đường phạm tội.

Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[5] Về áp dụng hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra thu giữ, gồm:

  • - 0,47 (không phẩy bốn bảy) gam ma túy, loại Heroine hoàn lại sau giám định và V bao gói; 01 (một) bơm kim tiêm; 01 (một) lọ thủy tinh bị vỡ 01 đầu; 01 (một) mảnh giấy có dòng kẻ; 01 (một) vỏ túi nilon rách đã được niêm phong theo đúng quy định. Đây là vật chứng, chất Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  • - 200.000 đồng tiền Ngân hàng N là tiền liên quan đến việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng, kèm 01 sim (thu giữ của bị cáo Đặng Văn T). Đây là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của bị cáo T, không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.

[7] Về án phí: bị cáo Đặng Văn T là người cao tuổi (66 tuổi). Tại phiên tòa, bị cáo đề nghị xem xét miễn tiền án phí. Hội đồng xét xử thấy, căn cứ quy định tại Điều 2 Luật Người cao tuổi và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo được miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Liên quan trong vụ án:

  • - Đối với đối tượng tên “Q”, theo T khai là người bán ma túy cho T. Do không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra, làm rõ.
  • - Đối với ông Trịnh Viết H1 là người cho T mượn nhà để ở, quản lý sử dụng, nhưng không biết T mua bán ma túy và dùng làm nơi chứa chấp cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
  • - Đối với Vũ Mạnh T2 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an thành phố C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào: điểm q khoản 2 Điều 251; điểm đ khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 55 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt Đặng Văn T: 08 (Tám) năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”; 07 (Bảy) năm tù về tội: “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt: buộc bị cáo Đặng Văn T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 15 ( Mười lăm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 14/12/2023.

Áp dụng: điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1; điểm a, b, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Tịch thu tiêu hủy: 0,47 (không phẩy bốn bảy) gam ma túy, loại Heroine hoàn lại sau giám định và V bao gói; 01 (một) bơm kim tiêm; 01 (một) lọ thủy tinh bị vỡ 01 đầu; 01 (một) mảnh giấy có dòng kẻ; 01 (một) vỏ túi nilon rách đều đựng trong phong bì niêm phong số 1771/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh Q.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 200.000 đồng tiền Ngân hàng N.

Trả lại cho bị cáo Đặng Văn T: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng (thu giữ của Đặng Văn T); 01 (một) chiếc sim (không xác định số sim) trên sim có 04 dãy số: 89840, 48000, 01162, 2245 (thu giữ của Đặng Văn T).

(Tình trạng các vật chứng và số tiền trên theo biên bản giao nhận vật chứng số 77/BB- THA, ngày 09/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh).

Bị cáo Đặng Văn T được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận: T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND TP Cẩm Phả;
  • - THADS TP Cẩm Phả;
  • - Bị cáo;
  • - CQCSĐT CA TP Cẩm Phả;
  • - CQ THAHS Công an TP Cẩm Phả;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu HS. Lưu VP.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Đạt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH về vụ án hình sự sơ thẩm về tội "mua bán trái phép chất ma túy" và tội "chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy"

  • Số bản án: 43/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và tội "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Văn T - mua bán trái phép chất ma tuý và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger