Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 43/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 25-4-2024

V/v: Tranh chấp về ly hôn,

nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Tố Như

Các Thẩm phán: Ông Đầu Khắc Dinh

Ông Lê Như Hạnh

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Phạm Trí Đôn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thanh Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 33/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 02 năm 2024 về việc: Tranh chấp về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXX-ST ngày 21 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 29/2024/QĐST-HNGĐ ngày 08/4/2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Hoàng Văn L, sinh năm: 1990 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn D, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

* Bị đơn: Chị Mai Thị Y, sinh năm: 1992 (vắng mặt)

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn D, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú hiện nay: Đài Loan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và bản tự khai cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn anh Hoàng Văn L trình bày:

- Về hôn nhân: Anh L và chị Mai Thị Y kết hôn trên cơ sở hai bên tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức hôn lễ, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 06/3/2012. Sau khi kết hôn hai vợ chồng sinh sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên tình cảm vợ chồng bị sứt mẻ. Mặc dù hai bên gia đình đã hòa giải, hàn gắn nhiều lần nhưng tình cảm vợ chồng không được cải thiện. Năm 2016 chị Y đi làm việc tại Đài Loan, vợ chồng mỗi người một nơi, không thể cùng nhau vun đắp hạnh phúc gia đình. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa anh L và chị Y đã hoàn toàn tan vỡ, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh L đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Y.

- Về con chung: Anh L và chị Y có 01 con chung là cháu Hoàng Thế V, sinh ngày 04/5/2013. Vợ chồng ly hôn, anh L có nguyện vọng được nuôi con, không yêu cầu chị Y đóng góp nuôi con chung.

- Về tài sản: Anh L và chị Y không có tài sản chung cũng không có tài sản riêng nên anh L không yêu cầu giải quyết

- Về công nợ: Anh L và chị Y không nợ chung ai cũng không cho ai vay nợ nên anh L không yêu cầu giải quyết

* Tại biên bản lấy lời khai ngày 07/3/2024 bà Mai Thị D (là mẹ đẻ chị Mai Thị Y) trình bày:

- Về hôn nhân: Bà D thống nhất như đơn khởi kiện của anh L về thời gian và điều kiện kết hôn của chị Y và anh L. Sau khi kết hôn thì anh L và chị Y ở tại gia đình anh L. Vào năm 2016 thì chị Y đi xuất khẩu lao động ở Đài Loan. Anh L và chị Y có mâu thuẫn gì hay không thì bà không biết, chỉ thấy khi chị Y về nước thì chị Y ở lại nhà bà thuộc xóm B, xã N, huyện N, Thanh Hóa chứ không về nhà anh L. Nay anh L xin ly hôn chị Y thì bà D đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật giải quyết. Chị Y đang đi lao động tại Đài Loan nhưng địa chỉ cụ thể thì gia đình bà không biết. Gia đình bà D thường xuyên liên lạc với chị Y qua điện thoại và có thông báo cho chị Y biết việc anh L xin ly hôn. Chị Y biết rõ sự việc nhưng chị Y bảo tùy anh L giải quyết.

- Về con: Chị Y và anh L có 01 con chung là cháu Hoàng Thế V, sinh ngày 04/5/2013. Vợ chồng ly hôn, anh L có nguyện vọng được nuôi con, không yêu cầu chị Y đóng góp nuôi con chung thì bà không có ý kiến gì.

- Về tài sản và công nợ của chị Y và anh L như thế nào thì bà D không biết.

Các văn bản Tòa án giao cho chị Y thì bà D xin nhận và sẽ có trách nhiệm thông báo cho chị Y biết nội dung.

Tại đơn trình bày nguyện vọng của cháu Hoàng Thế V, cháu có nguyện vọng được ở cùng với bố.

Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, trong quá trình thụ lý, giải quyết đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về hướng giải quyết: Đề nghị HĐXX căn cứ Khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37Điều 37; Khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 177; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 2, 3 Điều 228; Điều 238; Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

Xử:

+ Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Hoàng Văn L, xử cho anh Hoàng Văn L được ly hôn chị Mai Thị Y.

+ Giao cháu G cháu Hoàng Thế V, sinh ngày 04/5/2013 cho anh L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Y không phải đóng góp nuôi con chung cùng anh L.

Người không trực tiếp nuôi con được quyền đi lại thăm nom chăn sóc con chung mà không ai được cản trở.

+ Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Tranh chấp giữa nguyên đơn anh Hoàng Văn L và chị Mai Thị Y là: Tranh chấp về Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn. Bị đơn có địa chỉ trước khi xuất cảnh là thôn D, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú hiện nay là Đài Loan. Tại công văn số: 2347/QLXNC-P3 ngày 29/01/2024 của Cục Q bộ C cung cấp cho Tòa án: Chị Mai Thị Y, sinh ngày 22/10/1992 đã xuất nhập cảnh 11 lần, xuất cảnh gần nhất là ngày 20/12/2023, hiện nay chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Tại biên bản lấy lời khai của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa ngày 07/3/2024 đối với bà Mai Thị D (mẹ đẻ chị Mai Thị Y) xác nhận chị Y đi lao động tại Đài Loan đến nay chưa về, vì vậy có căn cứ xác định hiện nay chị Y đang ở Đài Loan nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án triệu tập chị Y nhưng chị Y vắng mặt không có lý do. Tòa án đã tiến hành tống đạt trực tiếp các giấy tờ, văn bản của Tòa án cho người thân của chị Y là bà Mai Thị D - mẹ đẻ của chị Y. Ngày 08/4/2024 Tòa án đưa vụ án ra xét xử lần thứ nhất chị Y vắng mặt nên phải hoãn phiên tòa. Tòa án đã tiến hành tống đạt trực tiếp và tiến hành niêm yết công khai quyết định hoãn phiên tòa theo đúng quy định của pháp luật nhưng tại phiên tòa xét xử vụ án chị Y vẫn vắng mặt không có lý do. Như vậy chị Mai Thị Y cố tình lần tránh, gây khó khăn cho việc giải quyết của Tòa án. Căn cứ vào khoản 2 Điều 177; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án lần thứ hai vắng mặt bị đơn chị Mai Thị Y. Đối với anh L, sau khi nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử, anh L đã có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vụ án vắng mặt anh L.

[2]. Về nội dung:

* Về hôn nhân: Anh Hoàng Văn L và chị Mai Thị Y kết hôn trên cơ sở hai bên tự nguyện tìm hiểu, có tổ chúc hôn lễ, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 06/3/2012. Như vậy là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, HĐXX nhận thấy:

Sau khi kết hôn hai vợ chồng sinh sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Chị Y đã đi Đài Loan theo diện lao động xuất khẩu và đã có 05 lần xuất nhập cảnh về Việt Nam, lần xuất cảnh gần đây nhất là ngày 20/12/2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Chị Y có biết việc anh L làm đơn xin ly hôn nhưng cũng không thiết tha níu kéo mà có thái độ bỏ mặc. Như vậy chứng tỏ cuộc sống hôn nhân của vợ chồng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Từ những phân tích trên, HĐXX nhận thấy yêu cầu xin ly hôn của anh Hoàng Văn L là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

* Về con: Anh Hoàng Văn L và chị Mai Thị Y có 01 con chung là cháu Hoàng Thế V, sinh ngày 04/5/2013. Vợ chồng ly hôn, anh L có nguyện vọng được nuôi con, không yêu cầu chị Y đóng góp nuôi con chung. Bản thân cháu L cũng có nguyện vọng được ở với bố khi bố mẹ ly hôn. Xét nguyện vọng nuôi con của anh L là chính đáng, bởi lẽ từ khi chị Y đi Đài Loan thì cháu V vẫn ở cùng anh L, được anh L chăm sóc chu đáo. Từ những phân tích trên, xét thấy cần giao cháu Hoàng Thế V là con chung của anh L và chị Y cho anh L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp. Việc anh L không yêu cầu chị Y đóng góp nuôi con là hoàn toàn tự nguyện nên cần được chấp nhận.

* Về tài sản và công nợ: Anh Hoàng Văn L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[3]. Về án phí: Anh Hoàng Văn L là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37Điều 37; Khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 177; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 2, 3 Điều 228; Điều 238; Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Hoàng Văn L đối với bị đơn chị Mai Thị Y.

Xử: Vắng mặt anh Hoàng Văn L và chị Mai Thị Y.

  1. Về hôn nhân: Xử cho anh Hoàng Văn L được ly hôn chị Mai Thị Y.
  2. Về con: Giao cháu Hoàng Thế V, sinh ngày 04/5/2013 cho anh L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Y không phải đóng góp nuôi con chung cùng anh L.

Người không trực tiếp nuôi con được quyền đi lại thăm nom chăn sóc con chung mà không ai được cản trở.

  1. Về án phí: Buộc anh Hoàng Văn L phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số: 0000177 ngày 29/02/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Chấp nhận đã nộp đủ.
  2. Về quyền kháng cáo: Anh Hoàng Văn L được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm, chị Mai Thị Y được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại UBND xã N và UBND xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận

  • - TAND Cấp cao tại HN;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - UBND xã Nga An và
  • UBND xã Nga Thành, h. Nga Sơn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Thị Tố Như

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HNGĐ-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 43/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp vè nuôi con khi ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger