|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 43/2024/HNGĐ-ST
Ngày 24-7-2024
V/v tranh chấp về ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vũ Thị Dịu
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Đặng Thị Đôi
Bà Phan Thị Minh Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 44/2024/TLST-HNGĐ, ngày 16 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Vũ Hữu S, sinh năm 1965; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng. Nơi ở hiện nay: Nhà số B, phố T, thị trấn N, huyện K, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị đơn: Bà Bùi Thị H, sinh năm 1965; nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn ngày 28 tháng 3 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Vũ Hữu S trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn với bà Bùi Thị H tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện K từ tháng 8 năm 1986 nhưng vợ chồng ông đã làm mất Giấy đăng ký kết hôn nên không còn để giao nộp cho Tòa án. Vợ chồng chung sống hòa thuận đến đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, mất niềm tin về kinh tế gia đình, bà H coi thường ông và thiếu trách nhiệm với gia đình ông, từ đó vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên giải nhưng không có kết quả nên ông phải nhiều lần về nhà mẹ đẻ ở, lần sau cùng từ tháng 01 năm 2023 đến nay, không ai quan tâm đến nhau cũng như cuộc sống chung gia đình. Nay ông xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, ông xin ly hôn bà Bùi Thị H.
Về con chung: Ông bà có 02 con là Vũ Thị P, sinh ngày 20/11/1987 và Vũ Thùy D, sinh ngày 02/5/1989, đều đã thành niên, xây dựng gia đình riêng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là bà Bùi Thị H trình bày tại Biên bản lấy lời khai ngày 27 tháng 6 năm 2024 thống nhất với ông S về thời gian, điều kiện kết hôn, thời gian chung sống hạnh phúc. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, mất niềm tin về kinh tế, mặt khác ông S lười lao động, thường xuyên uống rượu, không trung thực với bà nên vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Đã nhiều lần ông S bỏ về nhà mẹ đẻ ở, lần sau cùng từ tháng 01 năm 2023 đến nay không quan tâm đến nhau cũng như cuộc sống chung gia đình. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn; bà đồng ý ly hôn ông S.
Về con chung: Ông bà có 02 con như ông S đã trình bày. Do chị P và chị D đều đã thành niên, xây dựng gia đình riêng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tuy nhiên, khi Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; bà H vắng mặt và đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Vì vậy Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, ông S giữ nguyên toàn bộ nội dung, yêu cầu nêu trên và khai bổ sung: Trước năm 1987, gia đình bố mẹ đẻ ông là công dân thuộc xã T, huyện K cho đến đầu năm 1987 thì xã T chia tách ra thành hai, gồm xã T và thị trấn N, trong đó gia đình ông trở thành công dân thuộc thị trấn N. Trước khi xét xử ông khai, ông và bà H đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn N là có sự nhầm lẫn. Thực tế khi đó vẫn là xã T. Ông đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho ông được ly hôn bà H để giải phóng tinh thần cho ông.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71, 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội; Mục 1 Thông tư số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của ông Vũ Hữu S, cho ông Vũ Hữu S được ly hôn bà Bùi Thị H.
Về con chung: Ông bà có 02 con là Vũ Thị P, sinh ngày 20/11/1987; Vũ Thùy D, sinh ngày 02/5/1989, đều đã thành niên, xây dựng gia đình riêng, các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
Về tài sản, công nợ: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Ông Vũ Hữu S phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông S đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ông Vũ Hữu S xin ly hôn bà Bùi Thị H. Bà H đang cư trú tại xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là quan hệ pháp luật về “Tranh chấp về ly hôn”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy.
[2] Về việc giải quyết vắng mặt đương sự: Bà H là bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà H.
Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Ông S xin ly hôn bà H; căn cứ lời khai của ông S, bà H thì ông S và bà H chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) xã T từ tháng 8 năm 1986. UBND xã T xác nhận chỉ còn lưu giữ sổ đăng ký kết hôn từ năm 1989 đến nay, trong sổ không có tên ông Vũ Hữu S và bà Bùi Thị H đăng ký kết hôn. Theo cung cấp của UBND thị trấn N thì tháng 02 năm 1987, UBND thị trấn N được chia tách địa giới hành chính từ xã T nên UBND thị trấn N chỉ lưu giữ sổ đăng ký kết hôn từ năm 1987 đến nay, trong sổ không có tên ông Vũ Hữu S và bà Bùi Thị H đăng ký kết hôn. Như vậy không có căn cứ xác định ông S và bà H có đăng ký kết hôn. Trên cơ sở lời khai của ông S, bà H và những người thân trong gia đình ông S, bà H cũng như chính quyền xã T, chính quyền thị trấn N cung cấp thì ông S và bà H chung sống với nhau từ tháng 8 năm 1986 đến nay, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, sống công khai. Như vậy, căn cứ điểm a khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội; Mục 1 Thông tư số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp thì quan hệ hôn nhân của ông bà được pháp luật công nhận là vợ chồng nên xác định hôn nhân của ông S và bà H là hôn nhân hợp pháp. Thời gian chung sống, ông bà phát sinh mâu thuẫn từ đầu năm 2020, do bất đồng quan điểm sống, mất niềm tin về kinh tế, từ đó vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Đã nhiều lần ông S bỏ về nhà mẹ đẻ ở, lần sau cùng từ đầu năm 2023 đến nay không quan tâm đến nhau cũng như cuộc sống chung gia đình. Như vậy đủ cơ sở xác định hôn nhân của ông bà thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài; yêu cầu xin ly hôn của ông S có cơ sở chấp nhận nên xử cho ông S được ly hôn bà H là phù hợp với các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình cũng như quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa và ý kiến của bà H.
[4] Về nuôi con chung: Ông bà có 02 con là Vũ Thị P, sinh ngày 20/11/1987; Vũ Thùy D, sinh ngày 02/5/1989, đều đã thành niên, xây dựng gia đình riêng, các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
[5] Về tài sản, công nợ: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
[6] Về án phí: Ông Vũ Hữu S không thuộc trường hợp được miễn, giảm án phí nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật không có giá ngạch.
[7] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Vũ Hữu S được ly hôn bà Bùi Thị H.
- Về con chung: Chị Vũ Thị P, sinh ngày 20/11/1987 và chị Vũ Thùy D, sinh ngày 02/5/1989, đều đã thành niên, xây dựng gia đình riêng, các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: Ông Vũ Hữu S phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0007886 ngày 16 tháng 4 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy. Ông S đã chịu đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Ông Vũ Hữu S có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bà Bùi Thị H có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: - TANDTP Hải Phòng; - VKSND huyện Kiến Thụy; - Chi cục THADS huyện Kiến Thụy; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Dịu |
Bản án số 43/2024/HNGĐ-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp về ly hôn
- Số bản án: 43/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử
