Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2024/HS-ST

Ngày: 24/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Thuận

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Đức Sơn
  2. Ông Nguyễn Đức Binh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Vân là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Đinh Công Quảng - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 45/2024/TLST-HS, ngày 27 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Võ Nam Triều T, sinh năm: 1996 tại tỉnh Bình Thuận.

Nơi cư trú: Khu phố E, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Ngọc H và bà Nguyễn Thị T1; Gia đình có 04 anh chị em, Võ Nam Triều T là con thứ 4 trong gia đình. Vợ: Đoàn Thị Kim T2, sinh năm: 1988 (đã ly hôn 2021), có 01 người con, sinh năm: 2017.

Tiền án, Tiền sự: Không

2

Nhân Thân:

- Tại Bản án số 21 ngày 18/4/2013 Tòa án nhân dân huyện Đức Linh tỉnh Bình Thuận xử phạt Võ Nam Triều T 01 năm 02 tháng tù về tội: Cướp tài sản. Đã; xóa án tích.

- Tại Quyết định 0103725 ngày 15/9/2021 Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính đối với Võ Nam Triều T 2.000.000 đồng về hành vi: hủy hoại tài sản.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

- Bị hại: Phạm N, sinh năm: 1994 (có mặt)

Nơi cư trú: Tổ F, khu phố E, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • + Chị Đặng Thị Thu N1, sinh năm 1986(vắng).
  • Nơi cư trú: đường P, tổ H, khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

- Người làm chứng:

  • + Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1978(vắng)
  • Nơi cư trú: tổ A, khu phố B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
  • + Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1995 (vắng)
  • Nơi cư trú: tổ E, khu phố E, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
  • + Anh Đinh Nhật T3, sinh năm 1989 (vắng)
  • Nơi cư trú: Tổ A, khu phố B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Có mặt.
  • + Anh Trần Thanh T4, sinh năm 1994 (vắng)
  • Nơi cư trú: Số H, đường H, tổ G, khu phố B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 09/2/2024, Võ Nam Triều T chạy xe mô tô đến dựng trước quán nước của Đặng Thị Thu N1, sinh năm 1986, đường L, tổ A, khu phố B, thị trấn Đ, huyện Đ. Tại quán có Phạm N, sinh năm 1994; Nguyễn Văn H1, sinh năm 1995 cùng trú khu phố E, thị trấn Đ, huyện Đ; Đinh Nhật T3, sinh năm 1989 và Trần Thanh T4, sinh năm 1994; cùng trú tại khu phố B, thị trấn Đ, huyện Đ đang ngồi tại quán. Võ Nam Triều Tiên đi lại nói chuyện với Nguyễn Văn H1 về việc sao không đi nhậu với T mà ngồi đây chơi. Sau đó giữa Võ Nam Triều T và Phạm N xảy ra tranh cãi. Võ Nam Triều T đi ra lấy xe mô tô chạy về, khoảng 3 phút sau quay lại quán của bà Đặng Thị Thu N1, dựng xe ngoài đường, T cầm cây kiếm đi vào quán và chém 01 cái về hướng Phạm Nhựt ngồi, Phạm N cầm ghế nhựa đứng dậy đưa lên đỡ, lưỡi kiếm trúng vào ghế nhựa đồng thời lưỡi kiếm trúng vào tay phải của N. Thấy vậy, Trần Thanh T4 và Nguyễn Văn H1 chạy vào ôm T can ngăn lại, sau đó T cầm cây kiếm về cất giấu tại nhà. Đến khoảng 19 giờ 30 cùng ngày, T lấy cây kiếm trên mạng ra khu vực sông L (gần trạm bơm T6) thuộc khu phố E, thị trấn Đ ném xuống sông, sau đó về nhà ngủ. Ngày 13/02/2024, Công an thị trấn Đ triệu tập T làm việc, tại cơ quan Công an anh T đã khai nhận hành vi trên.

Tại Bản kết luận giám định số 279/KLTTCT-TTGĐYKPYBT Ngày 21/03/2024, của Trung tâm giám định y khoa - pháp y tỉnh B kết luận thương tích của Phạm N như sau:

  • - Vết thương mặt mu bàn tay phải đứt gân duỗi các ngón 3,4,5 đã được phẫu thuật điều trị hiện hạn chế gập, duỗi và đối các ngón 3,4,5 bàn tay phải; để lại sẹo vết thương trùng vết mổ kích thước: (11 x 2)cm, còn đóng vảy nâu. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 3% + 3% + 2% +1%.
  • - Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm N tại thời điểm giám định là: 9% (Chín phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
  • - Vết thương do vật sắc gây ra.
  • - Vết thương có chiều hướng lực tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương.

Vật chứng thu giữ:

  • - Thu giữ 01 cái ghế nhựa màu đỏ, bốn chân, có lưng tựa đã bị bể, kích thước (65 43 x 50)cm là tài sản của bà Đặng Thị Thu N1

Tại Cáo trạng số 43/CT-VKS-HS ngày 26/6/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh truy tố bị cáo Võ Nam Triều T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, điểm i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự .

Tại phiên tòa:

Bị cáo Võ Nam Triều T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố đối với bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng.

Về trách nhiệm dân sự: Phạm Nhựt yêu cầu bị cáo Võ Nam Triều T bồi thường tổng số tiền 67.206.955 đồng.

Trong phần tranh luận:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh nêu tóm tắt nội dung vụ án, phân tích các nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ hình phạt, nhân thân, tuổi của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự:

Về điều luật: Đề nghị áp dụng điểm a, điểm i khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51, Bộ luật hình sự.

Về tội danh: Tuyên bố Võ Nam Triều T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo Võ Nam Triều T mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự:

Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận về bồi thường của bị cáo và bị hại đã thống nhất tại phiên tòa. Tổng số tiền bị cáo phải bồi thường cho bị hại là: 67.207.000 đồng (làm tròn)

Về vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 cái ghế nhựa màu đỏ, bốn chân, có lưng tựa đã bị bể, kích thước (65 x43 x 50)cm .

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu, về trách nhiệm hình sự không có ý kiến tranh luận; Về trách nhiệm dân sự bị cáo thống nhất theo mức yêu cầu của bị hại là 67.206.955đồng.

Người bị hại: Về trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử theo quy định của pháp luật; Về trách nhiệm dân sự giữ nguyên mức yêu cầu bồi thường, ngoài ra không tranh luận gì thêm.

Lời nói sau cùng: Bị cáo thiếu suy nghĩ, lúc thực hiện hành vi bị cáo đã sử dụng bia rượu nên không làm chủ được hành vi của mình; bị cáo gửi lời xin lỗi tới người bị hại; mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng tại phiên tòa:

Tại phiên tòa mặc dù đã được tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vắng người liên quan, người làm chứng nhưng không có lý do, cũng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nhưng không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người liên quan, người làm chứng tại phiên tòa là phù hợp quy định tại Điều 291, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi và tội danh:

Vào khoảng 16 giờ 30 phút, tại quán nước của bà Đặng Thị Thu N1 ở đường L, tổ A, khu phố B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận có xảy ra cãi vã giữa Võ Nam Triều T và Phạm Nhựt . Sau đó Võ Nam Triều T lấy xe môto ra về. Khoảng 3 phút sau T quay lại, dựng xe ngoài đường, tay cầm cây kiếm xông vào chém về hướng Phạm N đang ngồi. Phạm N cầm ghế nhựa đứng dậy đỡ lưỡi kiếm của Võ Nam Triều T, dẫn đến lưỡi kiếm trúng vào ghế nhựa và trượt trúng vào mua bàn tay phải của N. Thấy vậy, Trần Thanh T4 và Nguyễn H1 chạy lại ôm T để can ngăn, lúc này kiếm rớt trên nền quán, chị Đặng Thị Thu N1 nhặt và đưa cho bà Đoàn Thị S nhà sát quán nước cất giữ. Sau đó Võ Nam Triều T sang nhà bà S đòi kiếm và đi về. Đến khoảng 19 giờ 30 cùng ngày, T lấy cây kiếm trên mạng ra khu vực sông L (gần Trạm Bơm TT. Đức Tài) thuộc khu phố E, thị trấn Đ ném xuống sông, sau đó về nhà ngủ.

Xét thấy Võ Nam Triều T là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhưng đã sử dụng 01 thanh kiếm kiếm là hung khí nguy hiểm chém Phạm N gây thương tích với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 9% (Chín phần trăm). Võ Nam Triều T là người trực tiếp gây sự với Phạm Nhựt . Sau khi cự cãi Võ Nam Triều T bỏ đi và chỉ khoảng 3 phút sau đã quay lại cầm kiếm chém thẳng về hướng Phạm Nhựt . Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự xem thường pháp luật. Từ việc cãi vã, mâu thuẫn nhỏ nhặt đã thực hiện việc dùng vũ lực, đặc biệt là dùng hung khi nguy hiểm để tấn công đối phương, thể hiện rõ tính chất côn đồ. Hành vi của Võ Nam Triều T đã trực tiếp xâm phạm đến khách thể là sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung tăng nặng “dùng hung khí nguy hiểm” và “ có tính chất côn đồ” với tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a, điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Vì vậy, cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo:

Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về nhân thân:

Tại Bản án số 21/2013/HS-ST ngày 18/4/2013 Tòa án nhân dân huyện Đức Linh tỉnh Bình Thuận xử phạt Võ Nam Triều T 01 năm 02 tháng tù về tội: Cướp tài sản. Đã xóa án tích; Tại Quyết định 0103725 ngày 15/9/2021 Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính đối với Võ Nam Triều T 2.000.000đồng về hành vi: hủy hoại tài sản. Sau khi chấp hành án xong bị cáo không lấy đó làm bài học để tự giáo dục, cải tạo mình thành người công dân tốt, mà còn tiếp tục phạm tội, điều đó chứng tỏ bị cáo là người xem thường pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng:

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ:

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt:

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn là phù hợp.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa bị hại Phạm N yêu cầu Võ Nam Triều T bồi thường tổng số tiền 67.207.000đồng (làm tròn) đồng cụ thể:

  • Tiền thuốc 14.206.955 đồng.
  • Tiền thuê xe (7 lần) 17.000.000đồng
  • Tiền mật thu nhập: 24.000.000đồng
  • T5 thuê người chăm sóc: 9.000.000đồng.
  • Tiền vật lý trị liệu: 3.000.000đồng

Tại phiên tòa bị cáo chấp nhận toàn bộ số tiền bị hại đã yêu cầu. Hội đồng xét xử thấy rằng đây là sự thỏa thuận tự nguyện của bị cáo và bị hại, nên chấp nhận sự thỏa thuận này.

[6] Về vật chứng:

01 cái ghế nhựa màu đỏ, bốn chân, có lưng tựa đã bị bể, kích thước (65 x 43 x 50)cm là vật chứng vụ án hiện không còn giá trị sử dụng, bà Đặng Thị Thu N1 không có yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

[7]Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên trong điều tra, truy tố:

Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Võ Nam Triều T Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đ, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh được phân công điều tra, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận, nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, người tham gia tố tụng không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[8] Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm về phần bồi thường thiệt hại.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a, điểm i khoản 1 Điều 134, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

    Tuyên bố bị cáo Võ Nam Triều T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

    Xử phạt bị cáo Võ Nam Triều T 01(một) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

  2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

    Tịch thu, tiêu hủy: 01 cái ghế nhựa màu đỏ, bốn chân, có lưng tựa đã bị bể, kích thước (65 43 x 50)cm

    (Vật chứng đang lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh)

  3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, 585 và 590 Bộ luật Dân sự:

    Công nhận sự thỏa thuận của bị cáo Võ Nam Triều T và bị hại Phạm N như sau:

    Bị cáo Võ Nam Triều T phải bồi thường cho bị hại Phạm N tổng số tiền 67.207.000 đồng

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Buộc bị cáo Võ Nam Triều T phải chịu 3.560.000đồng (trong đó 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.360.000đồng án phí dân sự sơ thẩm).

  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

    Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/7/2024). Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yến công khai để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

  6. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND, Công an huyện Đức Linh;
  • - TTLLTP-QG, Sở Tư pháp Bình thuận;
  • - Chi cục THADS huyện Đức Linh ;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu Văn Phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Xuân Thuận

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 43/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger